Triển vọng ngành xây dựng: Cơ hội để doanh nghiệp bứt phá

Nguyễn Tho

Năm 2021, đại dịch Covid-19 cùng với giá nguyên vật liệu gia tăng đã bào mòn biên lợi nhuận của hầu hết các doanh nghiệp ngành xây dựng, tốc độ tăng trưởng của toàn ngành thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Theo dự báo, năm 2022, mặc dù còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng các doanh nghiệp xây dựng vẫn có nhiều cơ hội bứt phá.

Theo VnEconomy, thời gian nửa đầu năm 2021, phần lớn những dự án nằm trong các tỉnh, thành bị giãn cách xã hội đều phải ngừng thi công. Các dự án nằm ngoài khu vực giãn cách cũng bị đình trệ do đứt gãy nhân lực và nguồn cung vật tư. Tổn thất kinh tế có thể nhìn thấy rõ nhất đó chính là: chi phí duy trì bộ máy, chi phí phòng chống dịch, chi phí huy động nguồn lực sau các đợt giãn cách...

Giá nguyên vật liệu bào mòn biên lợi nhuận của các doanh nghiệp

Liên quan đến thực trạng trên, theo kết quả khảo sát hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng do Vietnam Report thực hiện mới đây thấy được: 37,9% số doanh nghiệp tham gia chia sẻ rằng có hơn 20% số dự án/hợp đồng của họ bị chậm tiến độ hoặc bị ảnh hưởng chi phí do đại dịch.

xay-dung-1-1651729951.jpg
Triển vọng ngành xây dựng: Cơ hội để doanh nghiệp bứt phá. Ảnh: minh họa

Bên cạnh diễn biến phức tạp của dịch bệnh thì biến động giá nguyên vật liệu đã trở thành "cơn ác mộng" đối với các nhà thầu xây dựng. Chỉ số giá nguyên nhiên liệu cùng vật liệu dùng trong xây dựng tăng 6,4% so với cùng kỳ do nhu cầu vật liệu xây dựng tăng cao, trong khi đó, chuỗi cung ứng chưa hết gián đoạn từ năm 2020. Hai loại vật liệu xây dựng quan trọng nhất là xi măng và thép lần lượt tăng giá khoảng 8,4% và 40%.

Do chi phí vật liệu xây dựng chiếm khoảng 65-70% giá dự toán xây dựng công trình nên việc tăng giá vật liệu xây dựng ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu tư xây dựng, hiệu quả của nhiều dự án và xói mòn biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Có một số chuyên gia trong ngành đưa ra nhận định "bão giá" đã quét sạch những lợi nhuận có thể hy hữu còn lại, đẩy nhiều doanh nghiệp rơi vào tình cảnh thua lỗ. Trong khi đó, Tổng Cục Thống kê đưa ra số liệu, tốc độ tăng trưởng của toàn ngành trong năm 2021 chỉ đạt 0,63%, đây là mức rất thấp so với tăng trưởng trung bình 7,2% trong 10 năm trở lại đây.

Tuy vậy, cũng có nhiều ý kiến cho rằng tác động bởi đại dịch Covid-19 hoàn toàn không nằm ngoài dự đoán. Vì thế, doanh nghiệp nào đầu tư tốt cho khả năng phục hồi kinh doanh thì doanh nghiệp đó không những có thể vượt qua khó khăn từ những rủi ro và gián đoạn mà còn có thể phục hồi nhanh hơn và có bứt phá trong giai đoạn tiếp theo.

"Đến nay, cuộc khủng hoảng chưa từng có về kinh tế - xã hội trên diện rộng đang dần đi đến hồi kết. Đây cũng là thời điểm để chúng ta nhìn lại và chỉ ra những điểm yếu hoặc sai sót trong cách nhận biết, xử lý vấn đề. Từ đó, đề ra các biện pháp kiểm soát hoặc quy định mới để ngăn chặn những sự kiện tương tự xảy ra trong tương lai. Trong số các ngành kinh tế, các doanh nghiệp ngành xây dựng - vật liệu xây dựng nói riêng và hệ sinh thái ngành bất động sản - xây dựng - vật liệu xây dựng nói chung tỏ ra khá chủ động trước những ảnh hưởng từ đại dịch, nhờ kinh nghiệm quản trị khủng hoảng có được từ cách đây hơn mười năm", Phó Chủ tịch Vietnam Report - ông Phùng Hoàng Cơ nhận định.

xay-dung-2-1649838088.jpg
Biểu đồ đánh giá môi trường kinh doanh ngành xây dựng - vật liệu xây dựng

Thêm vào đó, theo kết quả khảo sát của Vietnam Report còn thấy được, 86,7% số doanh nghiệp trong ngành đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, phản ứng ngay lập tức cùng với thích nghi tốt và chịu ít tác động; 6,7% số doanh nghiệp không có sự chuẩn bị nhưng đã phản ứng một cách nhanh chóng và dứt khoát để phục hồi. Tuy vậy, vẫn có khoảng 3,3% số doanh nghiệp phản ứng chậm và kỳ vọng sẽ phục hồi trong tương lai và có 3,3% số doanh nghiệp chưa phục hồi hoàn toàn. Bàn về triển vọng của thị trường, phần lớn các doanh nghiệp trong ngành đều bày tỏ lạc quan đối với tất cả các phân khúc.

Mở ra cơ hội để các doanh nghiệp bứt phá

Trên thực tế, mặc dù bị mất đà tăng trưởng từ trước đại dịch nhưng thị trường xây dựng Việt Nam vẫn là một điểm sáng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, được định giá khoảng 60 tỷ USD vào năm 2021 và được dự báo sẽ đạt mức tăng trưởng hơn 8,71% trong giai đoạn năm 2022-2027.

Những tín hiệu tích cực đến ngay từ những tháng đầu năm khi backlog (giá trị hợp đồng chưa thực hiện) của các doanh nghiệp đầu ngành xây dựng dân dụng tiếp tục lập đỉnh. Bên cạnh đó, dòng vốn FDI tiếp tục đổ mạnh vào Việt Nam, là điểm sáng đối với mảng xây dựng công nghiệp. Cụ thể là, tính đến ngày 20/3/3022, tổng vốn FDI đăng ký cấp mới, tăng thêm và mua cổ phần đạt gần 9 tỷ USD; tổng vốn giải ngân ước tính đạt 4,42 tỷ USD (mức cao nhất so với quý I của các năm, từ năm 2018-2022). Thêm vào đó, một loạt các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ được triển khai gần đây đã và đang tạo ra những xung lực mới cho các doanh nghiệp trong ngành phục hồi và tăng tốc hơn.

Cụ thể, theo nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, sẽ có tối đa 176.000 tỷ đồng dùng cho đầu tư phát triển, phần lớn là đầu tư hạ tầng giao thông. Và cũng trong năm 2022, Bộ Giao thông Vận tải dự kiến được Chính phủ giao kế hoạch đầu tư công trung hạn hơn 50.000 tỷ đồng, đây là mức đầu tư lớn nhất từ trước đến nay. Việc có hàng loạt các dự án cao tốc sẽ được đẩy mạnh triển khai trong giai đoạn năm 2022-2025 sẽ mở ra cơ hội bứt phá lợi nhuận cho nhóm các doanh nghiệp xây dựng hạ tầng giao thông.

Thêm nữa, nhu cầu huy động vật liệu xây dựng lớn tại các dự án cũng sẽ có tác động tích cực đến nhóm doanh nghiệp thép xây dựng, nhựa đường, đá xây dựng và xi măng trong thời gian tới. Đồng thời, môi trường pháp lý cũng có một số chuyển biến tích cực như gần đây, Quốc hội đã thông qua dự án "1 luật sửa 8 luật" tháo gỡ khá nhiều nút thắt pháp lý trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản. Ngoài ra, còn có Nghị quyết 02/2022 của Chính phủ về thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, được kỳ vọng sẽ tạo ra áp lực đủ lớn để tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong tư duy quản lý kinh tế, đồng thời tạo thành trợ lực giúp các doanh nghiệp trong ngành sẵn sàng tăng tốc, chinh phục thêm những mốc son mới trong năm 2022 và những năm tiếp theo.

6 ưu tiên trong ngắn và trung hạn của các doanh nghiệp ngành xây dựng - vật liệu xây dựng

Tuy thế, có nhiều doanh nghiệp cũng bày tỏ lo ngại bức tranh kinh tế ngành xây dựng - vật liệu xây dựng vẫn còn tồn tại không ít những thách thức. Có thể thấy rằng, phần lớn khó khăn chính là hệ quả của đại dịch đều có chiều hướng giảm tác động trong 12-18 tháng tới khi mà cuộc khủng hoảng này đang dần đi đến hồi kết, ngoại trừ lạm phát (+17,2%) cùng tác động của suy thoái kinh tế (+6,9%).

Năm vừa rồi, Việt Nam vẫn kiểm soát lạm phát thành công khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2021 của nước ta chỉ tăng có 1,84% so với năm 2020 và thấp nhất trong 6 năm qua. Tuy nhiên, bước sang năm 2022, theo nhận định của phần lớn các doanh nghiệp và chuyên gia trong ngành, áp lực lạm phát là rất lớn. Lý do là khi đại dịch dần được kiểm soát và kết thúc thì nhu cầu tiêu dùng tăng cao trở lại; giá hàng hóa trên thế giới cũng tăng nhanh đối với một số mặt hàng thiết yếu và nguyên nhiên vật liệu sử dụng trong sản xuất do gián đoạn chuỗi cung ứng hoặc do gia tăng chi phí vận tải.

Dragon Capital dự báo lạm phát năm 2022 của Việt Nam khoảng từ 3,58-4,18%. Bên cạnh đó, căng thẳng chính trị giữa Nga - Ukraine gần đây đã có nhiều tác động đến thị trường toàn cầu. Từ đó, gián tiếp ảnh hưởng tới ngành xây dựng - vật liệu xây dựng Việt Nam thông qua nhiều kênh, ví dụ như diễn biến giá dầu và giá thép trên thế giới... Tuy vậy, chúng ta có thể kỳ vọng rằng với những bước tiến mới trong thỏa thuận đàm phán trong thời gian tới, căng thẳng sẽ hạ nhiệt và thị trường cũng sẽ ổn định hơn, từ đó, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp an tâm sản xuất kinh doanh.

xay-dung-3-1649838088.jpg
6 ưu tiên trong ngắn và trung hạn của các doanh nghiệp ngành xây dựng - vật liệu xây dựng

Trước bối cảnh đó, hầu hết các doanh nghiệp xây dựng - vật liệu xây dựng cho biết, trong ngắn và trung hạn, họ sẽ tập trung vào 6 ưu tiên như sau: 

Thứ nhất là tăng cường công tác quản trị tài chính, quản trị rủi ro. Thứ hai là đảm bảo việc làm, tiền lương và quyền lợi cho nhân viên. Thứ ba là tăng cường hợp tác đầu tư. Thứ tư là đẩy mạnh đầu tư và phát triển công nghệ. Thứ năm là tăng cường đào tạo và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực thích ứng với thời đại số. Cuối cùng là tăng cường huy động vốn, xây dựng nguồn tài chính vững mạnh. Từ đó, tạo lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong giai đoạn mới.