sapo-1682795941.jpg
 

Bước qua quý 1/2023 đầy thách thức, bức tranh kinh tế của Việt Nam nhiều gam màu xám hơn so với dự báo. Cụ thể, tăng trưởng GDP Quý 1/2023 ước tính tăng 3,32% so với cùng kỳ năm trước - mức giảm sâu nhất khoảng 12 năm nay, đặc biệt là sự sụt giảm của ngành công nghiệp, chế biến - chế tạo. Ngoài ra, bức tranh của doanh nghiệp Việt Nam cũng không mấy sáng sủa khi trong 3 tháng đầu năm, số doanh nghiệp rời khỏi thị trường còn lớn hơn số doanh nghiệp thành lập mới.
Trong bối cảnh đó, thị trường bất động sản vẫn khó khăn, “quả bom” trái phiếu doanh nghiệp chưa được tháo gỡ, nợ xấu được dự báo sẽ tăng mạnh, lãi suất neo ở mức cao… mục tiêu tăng trưởng 6,5% cho cả năm càng thêm khó khăn hơn.
Xung quanh vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Quốc Việt, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) để lý giải nguyên nhân và giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế.

thi-truong-bat-dong-san-10-nam-toi-kenh-dau-tu-sinh-loi-thi-truong-bat-dong-san-1-1-1682959037.png
 

Ông nhìn nhận thế nào khi GDP Quý I tăng trưởng rất thấp, chỉ khoảng 3,32%? Đặc biệt, khu vực công nghiệp, xây dựng lại tăng trưởng âm; xuất khẩu suy giảm. Đây là con số thấp hơn nhiều so với các dự báo trước đó. Theo ông, nguyên nhân vì sao?

TS Nguyễn Quốc Việt: Có nhiều nguyên nhân đã được chỉ ra nhưng về cơ bản là động lực cầu suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là đơn hàng xuất khẩu từ các bạn hàng chủ lực (thường là các quốc gia phát triển) do suy thoái kinh tế trên nền lạm phát vẫn neo cao, cầu tiêu dùng trong nước cũng chưa thực sự phục hồi như kỳ vọng.
Ngoài ra, nền lãi suất tăng cao cuối 2022 cộng với chi phí sản xuất đầu vào vẫn ở mức cao đã bào mòn biên lợi nhuận và đẩy nhiều ngành/doanh nghiệp vào thua lỗ, phá sản và buộc phải tạm dừng hoạt động.
Một nguyên nhân nữa là khủng hoảng trái phiếu và khu vực bất động sản đã khiến ngành này co cụm và vì nhiều lý do khác nhau không thể triển khai dự án, không đẩy được sản phẩm ra thị trường dẫn đến nguy cơ nợ xấu, thua lỗ, gây ảnh hưởng và tác động tâm lý dây chuyền sang một số lĩnh vực khác.
Chúng ta cũng thấy một số đầu tàu kinh tế cũng mất động lực tăng trưởng, ngoài những nguyên nhân kể trên thì còn do yếu kém cơ sở hạ tầng kéo dài, chi phí tuân thủ và thực thi chính sách tăng cao, khiến nản lòng các nhà đầu tư.
Không thể không kể đến yếu tố cạnh tranh quốc tế của các quốc gia trong khu vực, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực bị cạnh tranh gay gắt, thậm chí một số lĩnh vực hàng hoá/dịch vụ bị cạnh tranh ngay trên sân nhà, từ đó khiến cho năng lực sản xuất và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế bị ảnh hưởng.

11-1682959241.jpg
 

Trong Quý I năm nay, đáng lo ngại khi cả nước có khoảng 60.000 doanh nghiệp rời khỏi thị trường, nhiều hơn con số 57.000 doanh nghiệp được thành lập. Ông có nhận xét gì về điều này? Theo ông đâu là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn như vậy?

TS Nguyễn Quốc Việt: Nhìn vào 2 con số trên có thể thấy doanh nghiệp Việt đang cực kỳ khó khăn, biên độ lợi nhuận bị bào mòn do chi phí đầu vào tăng cao, nhất là chi phí vốn, dẫn đến phải tạm dừng và giải thể hàng loạt. Triển vọng thị trường kém, cầu cả trong và ngoài đều suy giảm khiến động lực đầu tư, niềm tin thị trường không cao.
Bối cảnh lãi suất neo cao khiến thị trường trường vốn méo mó, cá nhân/doanh nghiệp sẽ chỉ phòng thủ vào các tài sản đầu cơ hoặc gửi ngân hàng thay vì dồn lực vào sản xuất/kinh doanh chịu nhiều rủi ro hơn.
Các nguyên nhân vĩ mô như kể trên thì còn có nguyên nhân đến từ môi trường kinh doanh kém cải thiện, nhiều điều kiện kinh doanh chuyên ngành ngặt nghèo (ví dụ các quy định về phòng cháy chữa cháy gần đây) gây nản lòng và buộc các doanh nghiệp phải dừng hoạt động, thậm chí phá sản hàng loạt.
Một lý do quan trọng nữa là đa phần các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và năng lực cạnh tranh còn rất hạn chế. Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp đăng ký, tạo ra khoảng 60% GDP, tạo ra hơn 90% việc làm cho người lao động.
Một trong những chỉ số phản ánh năng suất và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp ngành điện tử là chỉ số năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của khu vực FDI cao hơn hẳn (thậm chí vượt trội) so với khu vực doanh nghiệp nhà nước và tư nhân của Việt Nam.

12-1682959410.jpg
 

Nhiều ý kiến cũng nêu quan điểm, kinh tế khó khăn nhưng thu ngân sách lại tăng mạnh, theo ông, chính sách tài khóa nên thực hiện thế nào để hỗ trợ nền kinh tế giai đoạn hiện nay?

TS Nguyễn Quốc Việt: Ngân sách 3 tháng đầu năm tăng không có gì mâu thuẫn với tình hình kinh tế quý 1, do nhiều khoản quyết toán thu từ hoạt động đã xong trong cuối 2022 nay mới cụ thể hoá, nhất là thuế và các khoản thu nội địa.
Nhìn rõ nguyên nhân suy giảm kinh tế 3 tháng đầu năm như đã phân tích ở trên đặc biệt là cầu sụt giảm cả trong lẫn ngoài trong khi chi phí mọi thứ đầu vào tăng cao, bào mòn biên lợi nhuận, rủi ro vay nợ xấu dẫn đến khó khăn dây chuyền.
Do vậy chính sách tài khóa có 2 con đường cơ bản: Thứ nhất là miễn giảm/hoàn thuế/phí: cần nhanh chóng thông qua các chính sách miễn hoãn, giãn phí/thuế của Doanh nghiệp, đồng thời nối lại chính sahcs miễn 2% thuế VAT, tạm dừng các chủ trương tăng thêm thuế và gánh nặng chi tiêu từ thuế (tăng thuế TTDB).
Thứ hai là thúc đẩy đầu tư công để tạo hiệu ứng lan tỏa. Đây là vấn đề được đề cập đến rất nhiều, nhưng vấn đề là khả thi đến đâu khi tốc độ giải ngân 3 tháng đầu năm mới đạt 10%.

13-1682959497.jpg
 
sub-1-1682795964.jpg
 

Vừa rồi ông có đề cập một trong những rủi ro lớn của nền kinh tế là nguy cơ nợ xấu từ trái phiếu doanh nghiệp và bất động sản khi thị trường này đang rất khó khăn. Nhiều chính sách được ban hành để tháo gỡ khó khăn cho trái phiếu và bất động sản và gần nhất là việc sửa đổi Thông tư 16. Theo ông, điều này có giúp tháo gỡ được “cục máu đông” ở thị trường này?

TS Nguyễn Quốc Việt: Rủi ro nợ xấu trái phiếu và bất động sản là hiện hữu, đặc biệt từ nửa sau năm 2022, các dòng vốn vào thị trường bất động sản hẹp lại, thị trường trái phiếu doanh nghiệp gần như đóng băng. Trong bối cảnh khó khăn này, việc cho phép các tổ chức tín dụng mua các trái phiếu này có thể làm tăng nguy cơ rủi ro đối với hệ thống tín dụng. Tuy vậy, trong tình thế hiện nay, nếu các doanh nghiệp không thể đáo hạn trái phiếu, dẫn đến phá sản có thể kéo theo rất nhiều hệ lụy đối với nền kinh tế, xã hội. Cách tiếp cận của Thông tư 16 tôi cho rằng phù hợp. Giống như cơ thể chúng ta đang có một cục máu đông, khi dùng các biện pháp nội khoa rồi mà không hiệu quả thì phải can thiệp ngoại khoa, đặt sten. Khi đó, dù có rủi ro, tổn thương nhưng vẫn hơn nhìn doanh nghiệp chờ chết.
Để tháo gỡ thanh khoản trái phiếu bất động sản đang quá nóng cần có biện pháp “tháo van”. Nhiều doanh nghiệp hiện muốn vay tiền nhưng không thể vì chưa thanh toán nợ cũ, dự án có vướng mắc pháp lý nên cũng không thể tiếp cận được vốn. Trong khi đó, các ngân hàng cũng phải tuân thủ các tiêu chí an toàn, không thể vượt giới hạn rủi ro. Do vậy, nếu không xử lý được các nút thắt này thì lãi suất có hạ cũng không giải quyết được khó khăn của doanh nghiệp.
Điểm quan trọng của Thông tư 16 là đề xuất cho các tổ chức tín dụng mua lại trái phiếu sắp đáo hạn mà doanh nghiệp không còn đủ khả năng trả nợ, nhưng tôi băn khoăn là giải pháp này có mang lại “tiền tươi” cho doanh nghiệp hay không? Cái doanh nghiệp cần nhất lúc này là khoản tiền tươi để hoàn thành dự án dở dang để bán. Còn nếu không giải quyết được vấn đề này thì việc sửa đổi thông tư dễ rơi vào tình trạng “liều thuốc tinh thần” cho các doanh nghiệp.

a1-1682960387.jpg
 
sub-2-1682795980.jpg
 

Theo ông, đâu là động lực tăng trưởng năm 2023? Với những gì diễn ra trong Quý I, liệu tăng trưởng cả năm liệu có đạt mục tiêu 6,5% đề ra?

TS Nguyễn Quốc Việt: Động lực tăng trưởng vẫn phải đến từ khu vực doanh nghiệp và đầu tư xã hội (bao gồm cả đầu tư tư nhân trong nước lẫn đầu tư nước ngoài). Do vậy, phải kiên quyết khai thông sức sản xuất, kinh doanh, tạo mọi điều kiện thông thoáng về môi trường kinh doanh, phục hồi niềm tin từ sản xuất đến tiêu dùng trong và ngoài nước.
Từ đó, theo tôi, giải pháp là phải có chính sách tiền tệ phù hợp và linh hoạt từ phía Ngân hàng Nhà nước để vừa đảm bảo ổn định vĩ mô, vừa hỗ trợ giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, khai thông ách tắc thanh khoản cho hệ thống ngân hàng nhưng vẫn đảm bảo an toàn tín dụng cho hệ thống.
Thêm vào đó, cần rà soát tính hiệu quả và khả thi, qua đó thúc đẩy tiến độ thực thi các giải pháp phục hồi và phát triển kinh tế đã được thông qua trong năm 2022 (ví dụ điển hình nhất là xem xét gói hỗ trợ 2% lãi suất). Đặc biệt, cần tiếp tục triển khai các giải pháp an sinh xã hội, các chính sách miễn, giảm thuế, phí,... như đã đề xuất ở trên.
Động lực thứ 2 mới đến từ chính sách tài khoá hợp lý và linh hoạt của nhà nước nhằm hỗ trợ phục hồi tăng trưởng. Trong đó, cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, thực hiện điều hòa hiệu quả nguồn vốn đầu tư công từ nguồn vốn của Chương trình phục hồi và nguồn vốn từ kế hoạch đầu tư công trung hạn. Đồng thời, đẩy nhanh một số chương trình hỗ trợ mới ví dụ như chương trình xây nhà ở xã hội và hỗ trợ vốn vay mua nhà cho lao động thu nhập trung bình thấp.

32-1682960537.jpg
 

Đầu tư công được xem là động lực chính, nhưng tốc độ giải ngân đang khá chậm, liệu kênh này có đủ sức vực dậy nền kinh tế? Thưa ông? Ngoài yếu tố này, ông cho rằng cần thêm những yếu tố gì để thúc đẩy nền kinh tế?

TS Nguyễn Quốc Việt: Thực sự nhiệm vụ giải ngân hơn 700 nghìn tỉ vốn đầu tư công trong năm 2023 là không dễ dàng và nguyên nhân đã được chỉ ra rất nhiều. Tôi cũng không quá kỳ vọng đầu tư công sẽ tạo ra sự đột phá cho tăng trưởng. Tôi kỳ vọng Chính phủ thực hiện tốt gói hỗ trợ 350.000 tỉ để hỗ trợ doanh nghiệp.
Tôi cũng cho rằng cần nâng cao tổng thể năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ sản xuất xuất khẩu, chú trọng khai thác các thị trưởng mới nối, thị trường khu vực, trong bối cảnh thị trường truyền thống và các nước phát triển đang bị suy giảm. Ngoài ra, cần nỗ lực hơn nữa để phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước trong chuỗi giá trị sản xuất.
Nhà nước cần xây dựng chính sách mới để các doanh nghiệp tư nhân trong nước có môi trường phát triển tốt hơn, cải thiện năng suất và hiệu quả sản xuất, kinh doanh; tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm hoạt động, quản lý từ các doanh nghiệp nước ngoài thông qua các chính sách kết nối giữa 2 khu vực kinh tế này.

bds-1682960880.jpeg
 

Những giải pháp nào để hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ nền kinh tế, thưa ông? Bộ KH-ĐT vừa đề xuất thành lập tổ công tác đặc biệt tháo gỡ khó khăn tại các địa phương, ông đánh giá thế nào về điều này và làm sao để có hiệu quả thực chất?

TS Nguyễn Quốc Việt: Sau khi kết quả kinh tế quý 1 thì có thể thấy mâu thuẫn lớn là khả năng Việt Nam có thể duy trì được lạm phát trong chỉ tiêu, nhưng lãi suất huy động và từ đó cho vay doanh nghiệp lại quá cao. Lạm phát của Việt Nam năm 2022 được kiểm soát ở mức 3,15%, định hướng năm 2023 dưới 4,5%. Tuy nhiên, trong khi từ giữa tháng 10.2022 đến nay, mặt bằng lãi suất huy động tiết kiệm của các ngân hàng từ 9,5 - 13%/năm. Như vậy, lãi suất huy động vốn của các ngân hàng cao gấp đôi, gấp ba so với lạm phát. 
Điều này cũng đồng nghĩa, lãi suất cho vay cao trên 10%, với lãi vay như vậy sẽ quá sức chịu đựng của doanh nghiệp. Vậy mấu chốt với các doanh nghiệp nói chung, nhất là doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất và dịch vụ thiết yếu là giảm lãi suất để có chi phí vốn phù hợp.
Một điều rất quan trọng là cần giải toả các ách tắc về môi trường kinh doanh, đặc biệt các quy chuẩn quy định kinh doanh quá cao, không phù hợp với thực tiễn Việt Nam hoặc cần phải có thời gian chuẩn bị vầ đầu tư của doanh nghiệp. Qua đó giúp doanh nghiệp giải toả các yêu cầu không thể thực hiện, nhằm nhanh chóng quay lại sản xuất kinh doanh dịch vụ.

thanh-pho-1682961134.jpg
 

Đó là ở góc độ chính sách, còn bản thân các doanh nghiệp thì sao, thưa ông?

TS Nguyễn Quốc Việt: Bản thân các doanh nghiệp tư nhân cũng cần phải tự đổi mới, thiết lập được hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và đủ sức bắt tay với tập đoàn công nghệ quốc tế lớn để tham gia nhiều hơn nữa trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Trở lại bài học từ khủng hoảng tài chính châu Á (1997-1998) cho thấy, doanh nghiệp cần cải tổ mô hình quản trị theo hướng minh bạch, liêm chính với các chuẩn mực hiện đại. Đồng thời, doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, xây dựng lộ trình phù hợp đối với doanh nghiệp mình. Trong đó, đạo đức kinh doanh là nền tảng của mọi loại hình doanh nghiệp. Nếu việc kinh doanh chỉ dựa dẫm vào đặc quyền hoặc “đi đêm”, quan hệ thân hữu thì không bền vững và sẽ gặp các rủi ro khác nhau.
Một điều tôi cũng cần nhấn mạnh là câu chuyện cạnh tranh và liên kết của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nước ngoại họ sẵn sàng cạnh tranh nhưng họ có sự liên kết tốt hơn các doanh nghiệp Việt. Ví dụ câu chuyện “cạnh tranh xuống đáy” của các nhà thầu xây dựng chia sẻ, nhưng với các doanh nghiệp nước ngoài họ ít có chuyện cạnh tranh xuống đáy như vậy. Trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp nước ngoài, sự liên kết dọc ngang, trong ngoài rất tốt. Tôi cho rằng sự cạnh tranh cũng phải đi cùng với liên kết.

Xin cảm ơn ông!

tac-gia-1682795994.jpg
 
Chia sẻ:

Tin mới cập nhật

Nhà hướng bắc kỵ tuổi nào để tránh xui xẻo và thu hút tài lộc

16 giờ trước

Nhà hướng bắc hợp tuổi nào: Cách chọn tuổi chuẩn phong thủy 2026

16 giờ trước

Nam tuổi Tân Mùi 1991 hợp hướng nhà nào để hút tài lộc và bình an

18 giờ trước

nam tuổi nhâm tuất 1982 hợp hướng nhà nào chuẩn phong thủy

18 giờ trước

Nam tuổi tý 1984 hợp hướng nhà nào chuẩn phong thủy

1 ngày trước