Mua bán đất qua thỏa thuận miệng thì có lấy lại được đất không?
Hỏi:
"Tôi thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà B. Hai bên chưa lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tôi đã nhận 500.000 đồng của bà B và nói đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà B. Tuy nhiên, sau 1 thời gian, tôi không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà B nữa. Hỏi:
1. Tôi có thể lấy lại số đất đó không ? Pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?
2. Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vấn đề trên ?" - Anh Nguyễn Quang Tông Tự
Trả lời:
Liên quan đến câu hỏi của anh Tự, Luật sư Lê Văn Quyền - Đoàn Luật sư TP Hà Nội xin tư vấn như sau:
Theo quy định tại Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015: “Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, sau đó công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013: "Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản".
Vì vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Tự và bà B không có giá trị pháp lý. Có thể hiểu rằng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng lời nói giữa hai bên không phát sinh hiệu lực pháp luật.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 130 Bộ luật Dân sự 2015: giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Theo đó, anh Tự phải trả lại tiền cho bà B và bà B trả lại đất cho anh Tự. Trong trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì quy ra tiền để hoàn trả.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 lại quy định, giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
Như vậy anh có thể so sánh, đối chiếu và kiểm tra lại thông tin về trường hợp của mình để có phương án giải quyết chính xác nhất.
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai là Tòa án nhân dân.