Đất bãi bồi là gì? Đặc điểm của đất bãi bồi
BÀI LIÊN QUAN
Cơ sở dữ liệu đất đai là gì? Các quy định pháp luật liên quanThời hạn sử dụng đất là gì? Gia hạn thời gian sử dụng đất như thế nào?Đất nền dự án là gì? Cách chuyển nhượng đất nền dự án như thế nào?Khái niệm đất bãi bồi là gì?
Đất bãi bồi được tạm hiểu là đất hoang hóa, đất mới do được phù sa bồi đắp nên.
Đất bãi bồi đã được chính thức luật hóa và được đưa vào trong Luật đất đai 2003 nhưng việc thực hiện quản lý hiện vẫn chưa thật sự có hiệu quả cao và còn thiếu chặt chẽ, tồn tại khá nhiều sự vướng mắc.
Sau khi Luật đất đai 2013 chính thức được ban hành và có hiệu lực thì đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi ven biển đã có nhiều quy định khác nhau để khắc phục tối đa tình trạng này so với luật cũ là có sự phân định chi tiết, rõ ràng về quyền quản lý, quyền sở hữu, quyền sử dụng đất bãi bồi. Ngoài ra thì đối với loại hình đất bãi bồi ở ven sông, ven biển còn được biết đến là bao gồm có đất bãi bồi ven sông, đất cù lao ở trên sông, đất bãi bồi khu vực ven biển và đất cù lao ở trên biển.

Trong bộ luật mới nhất, các đơn vị cơ quan quản lí, lập pháp đã xếp loại hình đất bãi bồi thuộc vào nhóm đất nông nghiệp. Loại đất này có tính chất, địa thế đặc biệt phù hợp với việc triển khai trồng trọt nông sản, cạnh tác nông nghiệp. Sử dụng đất vào các mục đích khác như xây nhà, khu công nghiệp là không phù hợp. Tuy nhiên, trong trường hợp phát sinh nhu cầu, người dân có thể thực hiện tiến hành chuyển đổi mục đích sử dụng đất dưới sự hỗ trợ của các đơn vị cơ quan chức năng quản lí. Cụ thể quy định được nêu rõ ở điều 141 trong Luật đất đai 2013 và điều 48 trong Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Chương II thông tư 02/2015/TT-BTNMT về loại hình đất bãi bồi ở ven sông, đất bãi bồi ven biển sẽ bao gồm có:
– Đất bãi bồi ven sông;
– Đất cù lao trên sông;
– Đất bãi bồi ven biển;
– Đất cù lao trên biển.
Đặc điểm nổi bật của đất bãi bồi
Đất bãi bồi được triển khai sử dụng, tiến hành khai thác và quản lí theo đúng các quy định của cơ quan pháp luật. Cụ thể như sau:
- Diện tích đất bãi bồi là thuộc vào địa phận của xã, phường, thị trấn nào thì sẽ do đơn vị Ủy ban nhân dân địa phương đó thực hiện quản lí và phân chia cho người dân được quyền sử dụng, khai thác và tổ chức sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp trồng trọt theo kế hoạch đã đề ra.
- Loại hình đất đai này thường xuyên có sự thay đổi, biến động về địa thế. Nguyên nhân là do sự bồi đắp hoặc sạt lở của hai bên bãi sông do áp lực đến từ dòng nước chảy. Do đó, chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng cần phải có chính sách bảo vệ, khai thác sử dụng một cách hợp lí.
- Diện tích đất bãi bồi có sẵn do cơ quan nhà nước cho thuê, tiền hành thu tiền sử dụng hàng năm. Đối tượng thuê sẽ là các cá nhân, các tổ chức doanh nghiệp, các hộ gia đình, tổ chức kinh thế mong muốn được quyền sử dụng đất vào việc triển khai sản xuất sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng cây cối, hoặc có thể làm muối.
- Những phần đất chưa được khai thác sử dụng, địa phương sẽ tiến hành thực hiện bàn giao lại cho các cá nhân, các tổ chức bị thiếu đất sản xuất. Mọi người được quyền sử dụng khai thác đất trong thời hạn đã quy định của cơ quan chức năng địa phương.

Chủ thể chịu trách nhiệm quản lý
Những chủ thể được phép thực hiện quyền quản lý đối với đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi ven biển:
- Đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi ven biển thuộc về địa phận của xã, phường, huyện, thị trấn nào thì sẽ do chính ủy ban nhân dân cấp xã đó thực hiện quản lý.
- Đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi ven biển sẽ thường xuyên xảy ra hiện tượng bồi tụ hoặc thường bị lún, sạt lở. Vấn đề này sẽ do ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý và bảo vệ, cảnh bảo với người dân địa phương.
Chủ thể sử dụng đất bãi bồi
Những chủ thể được phép khai thác, sử dụng đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi vùng ven biển:
- Đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi ven biển được cơ quan Nhà nước cho thuê đối với các tổ chức kinh tế, các hộ gia đình, các cá nhân, người Việt Nam đang sinh sống định cư ở nước ngoài, các đơn vị doanh nghiệp có số vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện triển khai dự án đầu tư kinh doanh, sản xuất, nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp.
- Hộ gia đình, các cá nhân đã được cơ quan Nhà nước giao cho đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi ven biển trước thời điểm ngày 01/7/2014 (Luật đất đai 2013 có hiệu lực thi hành) để sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì được sẽ được quyền tiếp tục sử dụng đất để sản xuất trong thời hạn giao đất còn lại.
Khi đã hết thời hạn giao đất quy định nếu cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được các đơn vị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện phê duyệt và không vi phạm pháp luật đất đai thì Nhà nước sẽ cân nhắc, xem xét về việc cho thuê đất.
Đất bãi bồi dễ bị lách luật và vận dụng sai
Theo quy định Luật Đất đai, đất bãi bồi ven sông, ven biển thuộc loại hình đất nông nghiệp nhưng có thêm đặc trưng riêng là quyền được phép tiến hành khai hoang, cho thuê đất, sử dụng đất theo quy định hợp đồng không bị phụ thuộc quá nhiều vào “hạn điền”.
Một đặc điểm nữa cũng rất quan trọng là do tính chất đặc thù vốn có và những phát sinh mới theo thời gian, địa hạt nên dù đã được đưa vào Luật Đất đai nhưng quyền quản lý, quyền sử dụng, quyền sở hữu đất bãi bồi vẫn chưa rõ ràng.
Hơn nữa, mỗi nơi, mỗi địa phương (do quan niệm, cách đánh giá còn khác nhau) lại có những cách vận dụng khác nhau để đưa ra những quy định về việc quản lý, sử dụng đất bãi bồi khác nhau. Điều này đã gây rất nhiều sự tranh cãi và trong thực tế cũng sẽ phát sinh ra rất nhiều những hệ lụy.
Ngoài lý do luật chưa rõ ràng còn nguyên nhân nhà chức trách cố tình lờ đi luật lệ quy định, làm sai luật lệ và dẫn chứng sai luật vì mục đích lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Đối tượng tranh chấp về đất bãi bồi có rất nhiều dạng thức khác nhau như: Dân tranh chấp đất với chính quyền địa phương, dân thường tranh chấp với dân, dân ở xứ này tranh chấp đất đai với dân xứ khác.
Nhiều khi, các câu chữ xuất hiện trong luật, các nghị định, các chỉ thị hướng dẫn… dù còn thiếu rất nhiều hệ thống cơ sở pháp lý, thực tế và cả đạo lý nhưng chính quyền của một số địa phương vẫn sẽ dựa vào đó để thực hiện chuyển giao từ chức năng quản lý Nhà nước chuyển sang chức năng được phép toàn quyền sử dụng, khai thác chi phối, từ đó dẫn đến thiệt hại cho người dân.
Có không ít khu vực đất bãi bồi ven cửa biển, đất bãi bồi ở ven sông, ven hồ, đầm do người dân tự thực hiện khai thác đã mấy chục năm, người dân đã tự làm khai hoang, xây công trình chắn sóng, bỏ rất nhiều công sức, tiền của quai đê bao, hình thành nên một khu dân cư ổn định, vững mạnh nhưng nay chính quyền địa phương lại vin vào quy định đất bãi bồi mà không tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân.
Ngoài ra cũng còn có hiện tượng đất bãi bồi đã trở thành nơi để “phát canh thu tô” của chính quyền cấp huyện, cấp xã, thôn, phường, thị trấn. Tiền “thu tô” đó được đưa vào quỹ đen ở địa phương, chính quyền địa phương không phải nộp ngân sách Nhà nước. Từ đó mới sinh ra các cán bộ đương chức ở các địa phương làm nhiệm vụ là trong coi đất bãi bồi là của cơ quan chính quyền. Người dân, vì thế, nếu thực hiện sử dụng tổ chức sản xuất canh tác trên đất bãi bồi sẽ luôn có cảm giác lo lắng, sợ hãi.
Qua thực trạng này, cũng nên xem xét lại điểm 2, điều 80 nằm trong quy định Luật Đất đai 2003 có phải là kẽ hở để cho chính quyền các địa phương cố tình tìm cách lách luật hay không? Xin trích dẫn: “2. Đất bãi bồi ven sông, ven biển thuộc địa phận xã, phường, thị trấn nào thì do UBND xã, phường, thị trấn đó quản lý…”. Trở lại thông tin đã nêu trên, nhiều người vẫn lợi dụng hai chữ “quản lý” để coi như toàn quyền được sử dụng đối với đất bãi bồi.

Đất bãi bồi có được tiến hành cấp sổ đỏ không?
Với trường hợp đất bãi bồi ven sông, đất bãi bồi ven biển có giấy tờ chứng minh nguồn gốc là thuộc vào thửa đất theo điểm G khoản 1 của Điều 100 Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của cơ quan Chính phủ thì hoàn toàn được cấp cho sổ đỏ.
Với trường hợp đất ven sông, ven biển không có các loại giấy tờ chứng minh chính xác nguồn gốc sử dụng muốn làm sổ đỏ thì được quy định chi tiết ở Điều 101 Luật Đất đai năm 2013: Cá nhân, hộ gia đình có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với những mảnh đất ven sông nói trên nếu được các đơn vị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành giao đất, cho thuê đất để triển khai, sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp theo quy định của cơ quan pháp luật. Cụ thể:
Cá nhân, hộ gia đình nếu sở hữu đầy đủ các điều kiện sau, thì sẽ được cấp cho sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất):
- Sử dụng đất bãi bồi trước ngày luật Đất đai năm 2013 chính thức có hiệu lực thi hành.
- Không có các loại giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013.
- Có hộ khẩu thường trú ở địa phương.
- Trực tiếp thực hiện triển khai việc sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng các loại thủy sản, làm muối trong vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
- Được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bãi bồi xác nhận là người đã khai thác sử dụng đất ổn định, không có sự tranh chấp.
Như vậy, nếu đất bãi bồi ven sông thỏa mãn được những điều kiện nói trên thì hoàn toàn được các đơn vị cơ quan có thẩm quyền cấp cho sổ đỏ.