Thương nhân là gì? Đặc điểm pháp lý của thương nhân
BÀI LIÊN QUAN
Mách bạn bí kíp trở thành một Business Man tài baBusiness Model là gì? Các yếu tố cấu thành lên Business ModelBusinessman là gì? Làm thế nào để trở thành một doanh nhân giỏi?Thương nhân là gì?
Khái niệm thương nhân đã được xác định rất rõ ràng trong Luật pháp Việt Nam. Cụ thể trong Luật Thương mại 2005 tại Điều 6, khoản thứ nhất thuật ngữ này được trình bày như sau:
Thương nhân gồm các tổ chức kinh tế hợp pháp, các cá nhân đang hoạt động thường xuyên, độc lập và có đăng ký hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương mại.
Như vậy, khái niệm đầy đủ về thương nhân theo pháp luật của Cộng hoà Pháp được xác định: Thương nhân là những người có năng lực và hành vi thương mại, thực hiện hành vi thương mại đó một cách độc lập. Mang danh nghĩa và vì lợi ích của chính mình mình, lấy đó làm nghề nghiệp thường xuyên.

Điều kiện để được công nhận là thương nhân
Khái niệm thương nhân là gì đã được lý giải rất chi tiết. Một người muốn trở thành thương nhân cần phải đáp ứng được 2 điều kiện sau:
- Thực hiện những hành vi thương mại.
- Thực hiện hành vi thương mại mang tính nghề nghiệp thường xuyên.
Ngoài hai điều kiện tiên quyết trên, trong quá trình thi hành Bộ luật Thương mại, các thẩm phán và học giả pháp lý đều thừa nhận thêm hai điều kiện nữa. Đó là việc thực hiện hành vi mang danh nghĩa cá nhân và vì lợi ích cho chính bản thân mình, có năng lực hành vi của hoạt động thương mại.
Mỗi quốc gia sẽ có một quan điểm về thương nhân khác nhau. Ở Đức, thuật ngữ này lại được quy định đồng nhất với khái niệm thương gia và có nội dung phức tạp hơn. Cụ thể, xã hội nước này quy định rằng người thương gia sẽ được chia ra gồm có: Thương gia công nhận qua thủ tục đăng ký, công nhận đương nhiên, công nhận dưới quy định của pháp luật,...
Đối với Luật pháp của Việt Nam, thương nhân chỉ đơn giản là những người thực hiện hành vi thương mại. Đồng thời sử dụng các hành vi thương mại đó thành một nghề nghiệp của bản thân.
Họ có thể là các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hay thậm chí là các hộ gia đình. Chỉ cần có thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên. Đây chính là điều kiện cơ bản để một cá nhân, tổ chức tại Việt Nam được công nhận là thương nhân.

Các thuộc tính cơ bản của thương nhân là gì?
Mỗi một thương nhân đều có những thuộc tính cơ bản vốn có. Nếu như không có những điều này thì không thể công nhận một người, tổ chức đó là thương nhân được:
- Thứ nhất, thương nhân cần phải đảm được hoạt động thương mại trong điều kiện hoàn toàn độc lập.
- Thứ hai, thương nhân cũng sẽ phải tiến hành những hành vi đó thường xuyên, liên tục và coi đó là một nghề nghiệp của mình.
- Thứ ba, thương nhân phải đăng ký kinh doanh.
Những nội dung này được tổng hợp trong hai Bộ luật Thương mại ban hành vào hai thời điểm là năm 1997 và 2005. Theo đó, định nghĩa cho thuật ngữ thương nhân này được xác định dựa vào hai tiêu chí là chủ thể - khách thể.
Tùy theo cách chúng ta quan niệm việc hoạt động thương mại theo chiều hướng nội dung, giá trị ý nghĩa như thế nào. Qua đó để xác định mức độ rộng và hẹp của thuật ngữ thương nhân là gì này.
Nếu căn cứ vào Luật ban hành trong năm 1997, khái niệm thương nhân dường như bị giới hạn rất nhiều. Trong đó chỉ bao gồm các cá nhân, tổ chức đã thực hiện các hành vi thương mại được xác định sẵn gồm 14 hành vi trong nội dung điều số 45.
Trong khi đó, căn cứ vào Luật Thương mại ban hành năm 2005 hoặc nội dung văn bản Pháp Lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003. Thương nhân được mở rộng hơn về ngoại diện do đó số lượng cũng tăng lên rất nhiều.

Tìm hiểu đặc điểm pháp lý của thương nhân là gì?
Thương nhân là một thuật ngữ nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu ngôn ngữ cũng như chuyên gia kinh tế. Thương nhân được xác định rõ từng khía cạnh tồn tại và có những đặc điểm pháp lý rất rõ ràng. Cụ thể gồm:
Thương nhân phải có hành vi thương mại
Đặc điểm thứ nhất, thương nhân cần phải có những hành vi thương mại cần thiết. Hành vi thương mại được xác định là hành động được thực hiện bởi người thương nhân khi họ làm việc trong lĩnh vực thương mại.
Một nội dung khác trong Luật pháp cũng xác định rằng thương nhân sẽ đăng ký kinh doanh để đủ điều kiện hoạt động thương mại. Với những khẳng định này, nếu muốn biết một chủ thể nào đó có đúng là thương nhân hay không. Chúng ta cần phải nhận định, xác thực xem họ có đang thực hiện những hành vi thương mại hay không.
Nếu có tư cách của người được công nhận là thương nhân thì không thể không có hành vi thương mại. Yêu cầu cơ bản cũng là điều kiện tiên quyết này được hầu hết các quốc gia lấy làm căn cứ để xác định chính xác khái niệm thuật ngữ thương nhân là gì.

Hành vi thương mại của thương nhân có sự độc lập và vì lợi ích riêng
Đặc điểm pháp lý thứ hai, thương nhân phải hoạt động độc lập, mang danh nghĩa cá nhân, vì lợi ích cá nhân để thực hiện hành vi thương mại. Nội dung này được xác định rất rõ trong các quy định của Luật Thương mại ở nhiều nước.
Đặc điểm thứ hai này chính là dấu hiệu để người ta phấn đấu hoặc xác định một chủ thể tham gia thương mại đó có phải là thương nhân hay không. Việc xác định này rất quan trọng vì trong lĩnh vực thương mại, có nhiều đối tượng cùng tham gia vào. Chúng ta sẽ rất dễ nhầm lẫn tất cả trong số họ đều là thương nhân.
Do đó, cần phải dựa vào tính độc lập trong thực hiện hành vi của chủ thể để xác định người đó có tư cách thương nhân. Bởi khi hoạt động thương mại thì thương nhân sẽ không bị chi phối bởi ý chí của chủ thể khác. Việc nhân danh của thương nhân xuất phát từ quyền độc lập kinh doanh của chủ thể. Vì thế, nếu thiếu điều kiện trên thì chủ thể không có tư cách thương nhân.

Những đặc điểm pháp lý khác
Ngoài hai đặc điểm pháp lý của thương nhân là gì trên, còn một số đặc điểm khác như:
- Thương nhân cần phải thực thi các hành vi thương mại thường xuyên, coi đó là một nghề nghiệp.
Việc hoạt động thương mại thường xuyên là dấu hiệu pháp lý không thể thiếu để xác định tư cách thương nhân. Một chủ thể cần phải thực hiện hành vi thương mại độc lập, tự thân, nhân danh chính mình và diễn ra một cách thường xuyên, liên tục..
- Thương nhân cần đăng ký hoạt động kinh doanh.
Thực chất, đăng ký kinh doanh là sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý cho sự ra đời của thương nhân.
- Thương nhân cần thể hiện năng lực hành vi thương mại.
Năng lực hành vi là khả năng của tổ chức, cá nhân bằng những hoạt động của chính họ để xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý. Tổ chức, cá nhân có năng lực hành vi thương mại sẽ được tham gia thị trường kinh tế với tư cách là thương nhân.

Lời kết
Những thông tin trong bài viết trên đây đã giải đáp rất chi tiết về thuật ngữ thương nhân là gì cũng như các đặc điểm pháp lý của thương nhân. Nếu bạn có mục tiêu trở thành một thương nhân thì hãy đọc thật kỹ các chia sẻ trên để đúc rút ra kinh nghiệm và kế hoạch cho bản thân nhé!