Phân biệt cổ phần và cổ phiếu trong doanh nghiệp?
Cổ phần là gì?
Hiểu theo một cách đơn giản thì các công ty cổ phần sẽ chia vốn điều lệ thành các phần bằng nhau, đây là phần vốn nhỏ nhất sẽ được chia trong các công ty cổ phần. Ví như như một công ty có vốn điều lệ là 100 tỷ đồng thì sẽ được chia đều thành 100.000 phần. Như vậy mỗi cổ phần nhỏ trong 100.000 cổ phần đã được chia sẽ có giá trị là 1 triệu đồng.
Mỗi cổ phần này được thiết lập dưới hình thức cổ phiếu, nên bất cứ ai sở hữu cổ phiếu của công ty sẽ được gọi là cổ đông. Có thể thấy, mối quan hệ của cổ phần và cổ phiếu rất chặt chẽ và có sự tương quan. Hiện nay, trên thị trường có 2 loại cổ phần là cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi.
Cổ phần phổ thông
Đây là những cổ phần thuộc sự sở hữu của những cổ đông trong thành phần của công ty. Thông thường, loại cổ phần này đều phải có mặt trong mỗi doanh nghiệp theo cách bắt buộc và chúng được chia đều dựa trên vốn điều lệ của công ty. Mỗi cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông có quyền biểu quyết đều như nhau. Đồng thời, họ cũng có quyền biểu quyết trực tiếp hoặc gián tiếp ủy quyền cho một người khác để thực hiện quyền biểu quyết.
Cổ phần ưu đãi
Cổ phần ưu đãi sẽ dành cho những cổ đông đặc biệt nhận được sự ưu đãi của doanh nghiệp được chia thành những loại như sau:
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Đây là một loại cổ phần phổ thông nhưng ai nắm giữ thì sẽ có quyền biểu quyết nhiều hơn so với những cổ đông phổ thông bình thường. Dựa vào quy định, điều lệ của mỗi doanh nghiệp mà cổ phần ưu đã biểu quyết này sẽ thay đổi tương ứng. Thông thường, những tổ chức, chính phủ ủy quyền hoặc các cổ đông sáng lập công ty sẽ là những người nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết này. Những đối tượng không thuộc thành phần trên sẽ không được quyền nắm giữ cổ phiếu này.
- Cổ phần ưu đãi về cổ tức: Những cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi về cổ tức thì họ sẽ nhận được mức chi trả cổ tức cao hơn những cổ đông khác một cách ổn định. Bên cạnh đó, những cổ đông sở hữu cổ phần này lại không có quyền biểu quyết trong các hoạt động của doanh nghiệp trừ một số trường hợp đặc biệt hoặc bất khả kháng được quy định trong Luật Doanh nghiệp.
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại: Những cổ đông sở hữu cổ phần này có quyền yêu cầu hoàn lại mức vốn mà họ đã góp từ ban đầu, phía công ty sẽ có trách nhiệm hoàn trả lại mức góp vốn đó cho cổ đông khi họ yêu cầu. Nhưng họ cũng không có quyền biểu quyết trong các hoạt động của doanh nghiệp trừ một số trường hợp đặc biệt đã được quy định.
- Một số loại cổ phần ưu đãi khác: Trong Luật chứng khoán hoặc các Điều lệ của công ty thì những cổ phần ưu đãi khác sẽ được quy định riêng, rõ ràng với những điều luật được thỏa thuận giữa hai bên.
Cổ phiếu là gì?
Cổ phiếu là khái niệm mà mọi người hay nhầm lẫn với cổ phần. Hiểu theo một cách đơn giản thì cổ phiếu là một loại tài sản tài chính xác nhận quyền sở hữu cổ phần của nhà đầu tư trong một công ty, doanh nghiệp nào đó. Hay hiểu theo một cách khác thì khi nhà đầu tư nắm trong tay cổ phiếu họ cũng là một trong những người sở hữu công ty phát hành.
Cổ phiếu cũng được chia làm hai loại là cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ thông như sau:
- Cổ phiếu ưu đãi: Đây là loại cổ phiếu mà người sở hữu sẽ được ưu đãi về cổ tức và các quyền ưu đã về biểu quyết trong doanh nghiệp, cũng như việc hoàn vốn cho công ty. Tóm lại, đây là loại cổ phiếu có nhiều đặc quyền có lợi cho người sở hữu nó.
- Cổ phiếu phổ thông: Đây là những cổ phiếu để xác định quyền sở hữu của cổ đông với công ty cổ phần. Họ cũng sẽ có quyền quản lý, kiểm soát và tham gia biểu quyết vào những hoạt động của công ty trong các cuộc họp Hội đồng quản trị.
Phân biệt cổ phần và cổ phiếu
Sau khi đã hiểu thế nào là cổ phần và cổ phiếu thì có thể dựa vào các đặc điểm của nó để phân biệt hai loại hình khác nhau này. Dưới đây là một số tiêu chí để phân biệt cổ phần và cổ phiếu:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Nhà đầu tư cần phải xác định được một cổ phần sẽ bằng bao nhiêu cổ phiếu, để từ đó tính toán ra xem mình cần sở hữu bao nhiêu tỷ lệ cổ phần ở công ty phát hàng để mua số lượng cổ phiếu tương ứng. Do đó, đây là điều hết sức quan trọng để thực hiện các giao dịch một cách đúng đắn.
Đồng thời, nhà đầu tư cũng phải xác định tỷ lệ giữa cổ phần và cổ phiếu mỗi công ty quy định. Số lượng cổ phần sẽ được tính toán dựa vào vốn điều lệ và giá trị tài sản của công ty, nhưng tỷ lệ này sẽ không giữ nguyên từ đầu đến cuối mà có sự thay đổi theo từng thời điểm hoặc sự tác động ngoại cảnh.
Cổ phần và cổ phiếu có mối liên hệ chặt chẽ nhưng cổ phần và cổ phiếu không phải là một nên cần phân biệt để tránh nhầm lẫn. Việc sở hữu cổ phần càng lớn càng khẳng định được quyền của nhà đầu tư với công ty, doanh nghiệp.