Các “ông lớn” quốc tế sử dụng 30 tỷ USD “săn lùng” quỹ đất tại Việt Nam
Liên tục ghi nhận nguồn tiền FDI
Theo VietNamNet, Bộ Xây dựng cho biết riêng các hoạt động kinh doanh bất động sản đã thu về 31 tỷ USD nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, năm 2021 đã giải ngân 2,6 tỷ USD, giảm 1,6 tỷ USD so với năm 2020. Ngành kinh doanh bất động sản đang đứng thứ hai toàn ngành khi đạt được gần 1,52 tỷ USD tổng số vốn đầu tư đăng ký, chiếm 30,4% thị phần. Có thể thấy, nhu cầu và kỳ vọng của các doanh nghiệp nước ngoài về việc phát triển các dự án bất động sản rất đa dạng.
Chuyên gia của Savills nhận định, Việt Nam đang hưởng nhiều lợi thế về yếu tố vĩ mô, tạo ra môi trường hấp dẫn cho các chủ đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp và cả cá nhân. Hơn nữa, Chính phủ đã đưa ra nhiều phương án hỗ trợ doanh nghiệp và kiểm soát tốt dịch bệnh. Qua đó, tình hình kinh tế cũng được ổn định và dần hồi phục, đảm bảo an ninh - xã hội. Đây chính là hai yếu tố quyết định cho các nhà đầu tư nước ngoài đặt niềm tin vào bất động sản Việt Nam.

Về các yếu tố vĩ mô, Việt Nam đang hồi phục nền kinh tế theo cách ổn định và bền hơn vững so với các nước khác trong cùng khu vực. FocusEconomics chỉ ra rằng, Việt Nam được kỳ vọng sẽ dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2022 và tiếp tục duy trì đến năm 2023.
Bên cạnh đó, quốc gia cũng thúc đẩy việc phát triển đồng bộ về cơ sở hạ tầng để giúp kết nối thuận lợi hơn. Hàng hóa sẽ lưu thông dễ dàng và việc di chuyển giữa các địa phương cũng nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí hơn. Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo, từ đầu năm nay, Chính phủ chính thức thông qua và triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội lớn nhất trong những năm qua, tổng giá trị gói hỗ trợ là 350 nghìn tỷ đồng. Trong đó sẽ trích ra 100 nghìn tỷ đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng giao thông.
Việc này đã đem đến những động lực thúc đẩy quan trọng, phát sinh thêm nhiều cơ hội phát triển cho các khu đô thị vệ tinh. Qua đó, doanh nghiệp FDI cũng có thể mở rộng quy mô, đầu tư thay vì trước đó chỉ tập trung hoạt động tại các trung tâm lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh.
Không chỉ vậy, ưu thế của Việt Nam là sở hữu nguồn lao động trẻ, dồi dào, nhiệt huyết với chi phí thuê nhân công cạnh tranh so với các quốc gia cùng khu vực. Tốc độ đô thị hóa nhanh mang đến điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó có tiềm năng lớn để phát triển nhiều dự án khu đô thị có quy mô.

Ngoài những yếu tố thuận lợi về mặt vĩ mô, việc Nhà nước có những chính sách kịp thời đã đóng vai trò củng cố niềm tin cho các doanh nghiệp FDI khi “rót” tiền vào Việt Nam. Thực tế, các chính sách thúc đẩy kinh tế, chiến dịch tiêm chủng toàn dân đã được triển khai nhanh chóng. Với chính sách phủ rộng tiêm chủng toàn quốc, Việt Nam đã tiến tới Top 6 quốc gia có tỷ lệ bao phủ vaccine cao nhất thế giới. Như vậy, các doanh nghiệp hoàn toàn có thể đặt niềm tin vào sự phục hồi và tăng trưởng của thị trường bất động sản Việt Nam.
Giữ chân các nhà đầu tư quốc tế
Trong khi Việt Nam đã có những cơ hội và tiềm năng hiện hữu, thì các hoạt động mua bán - sáp nhập trong nước lại còn tồn tại những hạn chế nhất định. Điều này đã làm các doanh nghiệp FDI dè dặt hơn và có phần kìm hãm lại sự phát triển của thị trường M&A.
Theo chuyên gia, thị trường M&A tại Việt Nam vẫn có nhiều ưu thế hơn so với các nước cùng khu vực. Tuy nhiên, các nhà đầu tư quốc tế còn phải đối diện với những thách thức nhất định. Bởi, giao dịch M&A được coi là một loại hàng hóa phức tạp. Do đó, các bên tham gia bắt buộc tìm hiểu kỹ càng và xây dựng kế hoạch cụ thể, chi tiết thì mới đem về những giá trị dài hạn trong tương lai.

Đặc biệt trong giai đoạn này, các doanh nghiệp đang có nhu cầu đầu tư được quyền tự do di chuyển quốc tế. Có thể nói, đây là giai đoạn “vàng” để giữ chân các doanh nghiệp FDI và làn sóng thương mại vào thị trường Việt Nam. Để tăng thêm sức hấp dẫn và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, thị trường còn phải phát huy thêm nữa các tiềm lực và tháo gỡ những vướng mắc còn tồn đọng. Trước mắt là hệ thống pháp luật về đất đai vẫn đang rất phức tạp, gây ra nhiều ách tắc và rắc rối trong vấn đề quản lý, giải quyết. Thực tế, Chính phủ đã nỗ lực cải cách trong những năm qua nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót trên thị trường M&A.
Theo ghi nhận, hầu hết các doanh nghiệp FDI đều mong muốn được triển khai cấu trúc liên danh (joint venture). Với mô hình này, các chủ đầu tư có quyền chủ động đưa ra quyết định và nhà đầu tư Việt Nam sẽ hỗ trợ về mặt pháp lý cho dự án. Tuy nhiên, sự khác biệt về văn hóa, cách thức kinh doanh và hệ thống pháp lý đã khiến việc đàm phán tốn nhiều thời gian. Thậm chí còn xảy ra mâu thuẫn tại giai đoạn hậu M&A.
Có thể thấy, thị trường M&A còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp, nhất là các công ty vừa và nhỏ vẫn chưa chuẩn bị kỹ cho hoạt động này. Còn với những doanh nghiệp có dự án lớn, họ chưa xây dựng được kế hoạch cụ thể cho sự phân kỳ hợp lý ngay từ giai đoạn đầu quy hoạch dự án. Việc này đã gây nên khó khăn cho việc huy động nguồn vốn đầu tư hoặc chuyển nhượng. Từ đó, bên mua và bên bán đang có những cách tiếp cận không đồng nhất, tạo ra sự khác biệt về mức giá kỳ vọng với dự án. Dẫn tới sự khó khăn trong khi đàm phán để đưa ra mức giá phù hợp nhất giữa hai bên.