Tổng quan về hệ sinh thái đô thị
Hệ sinh thái đô thị là gì?
Hệ sinh thái đô thị được hiểu đơn giản là cộng đồng thực vật, động vật và con người sống chung trong môi trường đô thị. Đây có lẽ là hệ sinh thái quen thuộc nhất đối với chúng ta, có cấu trúc phức tạp được tạo ra và duy trì bởi chính con người. Hệ sinh thái đô thị (Urban ecosystem) bao gồm các tòa nhà, đường xá, cống rãnh và đường dây điện... đan xen với rất nhiều không gian xanh như công viên, sân vườn, cây trồng ven đường, cảnh quan thương mại và những lô đất chưa xây dựng…
Các hệ sinh thái đô thị lớn nhất hiện nay tập trung tại châu u, Ấn Độ, Nhật Bản, miền đông Trung Quốc, Nam Mỹ và Hoa Kỳ, chủ yếu nằm trên các bờ biển có bến cảng, dọc theo bờ sông và tại các giao lộ giữa các tuyến giao thông.

Cấu trúc của hệ sinh thái đô thị là gì?
Giống như tất cả các hệ sinh thái khác, các hệ sinh thái đô thị bao gồm các thành phần sinh học (thực vật, động vật và các dạng sống khác) và các thành phần vật lý (đất, nước, không khí, khí hậu và địa hình). Tuy nhiên, các thành phần sinh học trong hệ sinh thái đô thị mở rộng hơn các hệ sinh thái khác khi có thêm dân số, với đặc điểm nhân khẩu học, cấu trúc thể chế và các công cụ kinh tế - xã hội mà con người sử dụng.
Các thành phần vật lý có thêm các tòa nhà, mạng lưới giao thông, bề mặt được sửa đổi (như bãi đỗ xe, cảnh quan…) và những thay đổi môi trường do con người quyết định. Các thành phần vật lý của hệ sinh thái đô thị cũng bao gồm việc sử dụng năng lượng và vật chất. Những biến đổi năng lượng và vật chất không chỉ tạo ra nhiều lợi ích cho con người (như giao thông và nhà ở) mà còn dẫn đến tình trạng ô nhiễm, chất thải và nhiệt dư thừa. Các hệ sinh thái đô thị thường có nhiệt độ ấm hơn cùng với tốc độ và lượng nước chảy bề mặt cao hơn sau mưa bão so với các hệ sinh thái khác. Kim loại nặng, bụi canxi, hạt và các hợp chất hữu cơ nhân tạo (như phân bón, thuốc trừ sâu, chất gây ô nhiễm từ dược phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân) cũng xuất phát từ các hệ sinh thái đô thị.
Sự phát triển mở rộng của các khu đô thị lớn đã dẫn đến việc chuyển đổi rừng, đất ngập mặn, sa mạc và các quần xã sinh vật khác thành các khu vực dành cho mục đích dân cư, công nghiệp, thương mại và giao thông vận tải. Điều này đang dần hút cạn sự màu mỡ của đất đai, khiến hệ sinh thái hoang dã, nông thôn bị phá vỡ và khiến môi trường dần hoàn toàn chìm ngập trong ô nhiễm.
Theo cấu trúc này, hệ sinh thái đô thị có thể được chia thành 3 thành phần chính:
- Thành phần hữu sinh: bao gồm con người và các sinh vật.
- Thành phần vô sinh: bao gồm đất, nước, không khí, nhiệt độ...
- Thành phần công nghệ: bao gồm cơ sở quản lý, sản xuất, dịch vụ. Đây chính là thành phần quyết định dòng năng lượng và vật chất đi qua hệ sinh thái.
Phạm vi của hệ sinh thái đô thị là gì?
Các hệ sinh thái đô thị hiện bao phủ khoảng 4% bề mặt thế giới. Nhưng với sự phát triển nhanh chóng của các thành phố nư hiện tại, hệ sinh thái đô thị có lẽ chính là loại hệ sinh thái duy nhất có thể tiếp tục mở rộng. Việc xây dựng đường xá, nhà ở, đường dây điện, các khu công nghiệp và thương mại tạo ra cảnh quan đô thị mới nhưng nó lại được đánh đổi bằng sự chia cắt của các khu rừng, đồng cỏ, đất nông nghiệp trong quá trình phát triển không ngừng.

Mối đe dọa của hệ sinh thái đô thị trên thế giới?
Mức tăng trưởng đô thị mạnh mẽ và nhanh chóng là áp lực lớn nhất đối với hệ sinh thái đô thị. Các khu vực đô thị sẽ có khoảng 4,9 tỷ cư dân trên toàn thế giới vào năm 2030. Trên thực tế, gần như tất cả sự gia tăng dân số này đều là gia tăng đô thị. Dân số tại nông thôn được dự báo sẽ vẫn ổn định trong vòng 30 năm tới, trong khi đó, sự tăng trưởng sẽ tập trung vào các thành phố và vùng ngoại ô.
Sự phát triển của các thành phố khổng lồ - siêu đô thị với hơn 10 triệu dân - sẽ là xu hướng phát triển đô thị trong tương lai. Điều này có nghĩa là các khu vực đô thị sẽ trải rộng trên diện tích lớn hơn đáng kể so với hiện tại, dẫn đến các khu vực tự nhiên như rừng, đồng cỏ và trang trại sẽ bị thay đổi trở thành môi trường đô thị.
Áp lực đè nén lên hệ sinh thái đô thị ở các quốc gia trên khắp thế giới, đặc biệt là ở châu Á. Trung Quốc sẽ phải đương đầu với khoảng 11 triệu cư dân đô thị mới mỗi năm. Chính phủ Trung Quốc ước tính rằng khoảng 40 thành phố mới sẽ mọc lên mỗi năm để phục vụ cho quá trình đô thị hóa này.
5 thay đổi để phục hồi hệ sinh thái đô thị
Con người là thành phần tạo ra ô nhiễm nhưng cũng chính là chìa khóa khôi phục lại hệ sinh thái. Như đã nói, các hệ sinh thái đô thị là những hệ sinh thái duy nhất đang tiếp tục phát triển trên toàn thế giới và các vấn đề về môi trường hình thành từ quá trình đô thị hóa cũng vậy. Tuy nhiên, khi đã tìm hiểu về hệ sinh thái đô thị là gì, chúng ta biết rằng vẫn còn thời gian và cách để chúng ta khôi phục và bảo vệ môi trường sống này.
1. Hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần
Nói không với ống hút nhựa trong các sản phẩm ăn liền hay luôn mang theo sản phẩm có thể tái sử dụng như túi vải hay chai nước… là những cách đơn giản để chúng ta có thể bảo vệ môi trường.
Mỗi năm, có khoảng 500 tỷ chai nhựa được bán ra. Và khoảng 50% chất thải rắn được tạo ra trên toàn thế giới đến từ nhựa sử dụng một lần. Có thể nói, nó chính là nguyên nhân gây hại cho môi trường, góp phần tạo ra những bãi rác khổng lồ hay sự ô nhiễm đại dương đáng báo động hiện nay.
Nhìn chung, chúng ta có thể hạn chế việc sử dụng đồ nhựa sử dụng một lần bằng cách tránh các loại như: dao nĩa nhựa, ống hút, đĩa, chai lọ, màng mỏng, tấm bọc nilon, v.v. Và thay thế chúng bằng các vật liệu bền vững như dao nĩa tre và bao bì làm từ sáp ong. Hãy nhớ rằng những thay đổi nhỏ có thể tạo ra sự khác biệt lớn.
2. Giảm lượng khí thải carbon trong hệ sinh thái đô thị bằng cách đi xe đạp nhiều hơn
Hạn chế sử dụng các phương tiện cơ giới và chuyển sang xe đạp là một biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn và khí thải carbon. Điều này rất hiệu quả trong việc giảm hiệu ứng nhà kính và cải thiện chất lượng không khí. Xe đạp, không giống như ô tô, không chạy bằng động cơ hay cần đến nhiên liệu, do đó chúng ta có thể giảm phát sinh chất thải. Đi xe đạp còn giúp bảo tồn đường bộ và không gian dân cư, tạo cơ hội cho cuộc sống ít bê tông hơn ở các khu vực đô thị, từ đó có diện tích để phát triển không gian xanh.

3. Chuyển sang cơ sở hạ tầng xanh
Thông qua việc xây dựng cơ sở hạ tầng xanh, sự kết hợp giữa thiên nhiên và công trình xây dựng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng đất, nước và không khí của khu vực. Một số thiết kế cơ sở hạ tầng xanh có thể kể đến như:
- Mặt đường thấm nước: Mặt đường thấm nước là mặt đường có bề mặt xốp, có thể hứng nước mưa và dòng chảy trên bề mặt, lưu trữ và giúp chúng từ từ thấm vào lòng đất. Phương pháp này giúp thiết lập sự cân bằng thủy văn tự nhiên và giảm khối lượng dòng chảy (khoảng 70% lượng mưa ở các khu vực đô thị là dòng chảy bề mặt). Từ đó, giúp nạp lại nước ngầm.
- Mái xanh và vườn treo: Tường cây là một phần nằm trong công trình chống chịu khí hậu. Chúng có khả năng lọc không khí, giảm nhiệt độ môi trường, giảm mức sử dụng năng lượng; đóng vai trò là tường cách âm cho các tòa nhà và giúp tăng cảm giác thoải mái khi sinh sống trong các toà nhà đó. Cụ thể, một không gian được bao bọc bởi cây cối sẽ có nhu cầu sử dụng điều hòa không khí ít hơn khoảng 33%.
4. Bảo tồn không gian xanh đô thị
Biến đổi bề mặt đất và ô nhiễm không khí ở các đô thị đã làm suy thoái và hình thành các đảo nhiệt đô thị. Những khu vực bị con người tác động này có nhiệt độ cao hơn các khu vực nông thôn xung quanh. Hiệu ứng nhiệt đó gây ra tình trạng bốc hơi nhanh trong các ao hồ của hệ sinh thái đô thị.
Không gian xanh đô thị trung bình sẽ mát hơn khoảng 1ºC so với các khu vực xây dựng xung quanh. Ngoài ra, không chỉ các công viên lớn và khu vực rừng cây mới có thể bảo tồn các loài sinh vật, mà ngay cả những khu vực nhỏ như vòng xuyến, lề đường và các lớp phủ xanh khác cũng góp phần trong việc bảo tồn nhiều loại thực vật, côn trùng và chim. Do đó, việc tăng độ che phủ của cây xanh, xây dựng các công viên, vườn hoa công cộng sẽ giúp giảm hiệu ứng nhiệt, cung cấp nơi trú ẩn cho các loài chim di cư và thúc đẩy sự đa dạng sinh học của khu vực.
5. Mua sắm tại địa phương
Bằng cách mua sắm tại địa phương (như các chợ phiên hay các cửa hàng tạp hoá gần nhà), chúng ta có thể giảm quãng đường di chuyển để mua được thực phẩm. Bằng cách cắt giảm quãng đường này, chúng ta đang giảm tác động đến môi trường xung quanh.
Ngoài ra, mua hàng từ chợ địa phương cũng là một cách tuyệt vời để hỗ trợ doanh nghiệp địa phương phát triển, tránh lãng phí bao bì, giảm lượng khí thải carbon và hỗ trợ hệ sinh thái đô thị.
Kết luận
Khoảng 55% dân số thế giới đang sống ở đô thị và tỷ lệ này dự kiến sẽ tăng lên 68% vào năm 2050 (Báo cáo của Liên hợp quốc 2018). Với các nguồn lực hạn chế, chúng ta cần thận trọng hơn nữa về tác động mà từng hành động của bản thân có thể tạo ra cho môi trường. Bởi mọi hành động đều có giá trị của nó! Hệ sinh thái đô thị là gì? Nó đơn giản là thứ chúng ta cần nỗ lực chung tay thay đổi và bảo vệ vì mục đích duy trì sự sống an toàn cho chính chúng ta.