Giấy tờ công chứng và sổ sách đất đai được quy định như thế nào
Giấy tờ công chứng và sổ sách đất đai được nhà nước quy định như thế nào và những vấn đề phát sinh xung quanh vấn đề này là gì cùng tìm hiểu nhé
Có thể bạn quan tâm:
Một thửa đất, nhiều lần đo đạc có diện tích khác nhau
HỎI: Tôi có căn nhà với khuôn viên đất diện tích 42,5m2, đà được sử dụng từ trước năm 1975 đến nay. Theo tờ kê khai năm 1977 thì diện tích đất là 44,6m2, nhưng theo bản đồ hiện trạng do Đoàn đo đạc bản đồ lập năm 1977 thì khuôn viên là 42,5m2. Tuy nhiên, theo giấy phép hợp thức hóa của UBND quận cấp năm 1985 thì diện tích đất sử dụng chỉ 36,2m2.

Năm 1997, tôi làm thủ tục xin công nhận phần diện tích đất còn lại thì bị hộ liền kề tranh chấp khoảng không gian giáp ranh. Đáng chú ý là hộ liền kề đã hoàn thành việc xây mới công trình nhà vào năm 2010 và trong giấy chủ quyền nhà của họ không có ghi nhận nào về khoảng không gian phía sau. Xin hỏi, này tôi phải liên hệ với cơ quan nào để được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 42,5m2 ?
TRẢ LỜI: Theo Khoản 2, Điều 48 Nghị định 181 ngày 29/10/2004 của Chính phủ
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện: đất không có tranh chấp, đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch (thời điểm sử dụng đất do UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận)...
Theo đó, nếu bị hộ liền kề tranh chấp về quyền sử dụng đất, vẻ nguyên tắc thì ông không được cấp giấy chứng nhận. Ồng phải đợi khi tranh chấp được các cơ quan thẩm quyền (UBND quận hoặc Tòa án nhân dân quận, tùy trường hợp) giải quyết xong và nếu lẽ phải thuộc về ông thì ông mới được UBND quận tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Với các thông tin ông đã nêu trong thư, ông có thể nộp đơn đề nghị UBND quận xem xét, cấp giấy chứng nhận toàn bộ diện tích đất. Tùy thuộc vào cách xử lý cụ thể vào thời điểm này của UBND quận mà ông sẽ thực hiện quyền khiếu nại hoặc khởi kiện để yêu cầu cấp giấy chứng nhận của mình được giải quyết dứt điểm.
Bị từ chối công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất

HỎI: Năm 2010, tôi có nhận chuyển nhượng 3ha đất. Đầu năm 2014, tôi kết hôn. Tháng 11/2014, tôi đến một văn phòng công chứng để công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất nhưng họ yêu cầu vợ tôi phải đến ký vào hợp đồng thì họ mới công chứng. Tôi không đồng ý và có trình bày đó là tài sản của cá nhân tôi, không phải là tài sản chung của vợ chồng.
Tuy nhiên, văn phòng công chứng vẫn từ chối công chứng hợp đồng với lý do “không chứng minh được tài sản riêng của bản thân”. Xin hỏi, để chứng minh tài sản riêng, tôi phải làm sao? Tôi có thể yêu cầu văn phòng công chứng bồi thường chi phí do bên mua hủy việc mua bán đất?
Trần Đình Tú (Đường Ni Sư Hùynh Liên, phường 10, quận Tân Bình, TP.HỒ Chí Minh)
TRẢ LỜI: Theo Khoản 1, Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn. Như vậy, để chứng minh diện tích đất trên là tài sản riêng của mình thì ông có thể nộp giấy chứng nhận kết hôn được cấp sau thời điểm ông được cấp sổ đỏ.
Về việc bị từ chối công chứng, theo Điều 63 Luật Công chứng năm 2006, nguôi yêu cầu công chứng có quyền khiếu nại về việc từ chối công chứng khi có căn cứ cho rằng việc từ chối đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trưởng văn phòng công chứng có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với việc từ chối công chứng trong thời hạn không quá ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của trưởng văn phòng công chứng, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến giám đốc Sở Tư pháp. Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.
Có thể bạn quan tâm:
Chúng ta vừa tìm hiểu về giấy tờ công chứng và sổ sách đất đai mong rằng qua bài viết vừa rồi đã giúp các bạn hiểu rõ hơn về quá trình công chứng và sổ sách đất đai.