Sự hình thành và phát triển của chế định hòa giải tranh chấp đất đai trong pháp luật việt nam

0
213
Sự hình thành và phát triển của chế định hòa giải tranh chấp đất đai trong pháp luật việt nam
Sự hình thành và phát triển của chế định hòa giải tranh chấp đất đai trong pháp luật việt nam

Giai đoạn từ 1945 đến 1989

Hòa giải với tính chất là một phương pháp giải quyết tranh chấp nhưng cũng là một biện pháp giải quyết đầu tiên khi có tranh chấp xảy ra và được nhân dân ta rất coi trọng và hay sử dụng. Ngay sau khi giành được chính quyền (1945), Đảng và Nhà nước ta đã ban hành văn bản pháp luật đầu tiên quy định về hòa giải là sắc lệnh số 13 ngày 21/1/1946 về tổ chức Tòa án. Tại khoản 1 Điều 3 có quy định: “Ban Tư pháp xã có quyền hòa giải tất cả các việc dân sự và thương sự. Nếu hòa giải được, Ban Tư pháp xã có thể lập biên bản hòa giải có các ủy viên, đương sự ký”
Điều 4 Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 quy định thẩm quyền của Ban Tư pháp xã và hiệu lực pháp lý của biên bản hòa giải tại xã như sau: Ban Tư pháp xã hòa giải tất cả các việc hộ và thương sự do người đương sự muốn mang ra trước Ban Tư pháp ấy. Biên bản hòa giải ấy chỉ có hiệu lực tư chứng thư.

Hoa giai voi tinh chat la mot phuong phap giai quyet tranh chap - Sự hình thành và phát triển của chế định hòa giải tranh chấp đất đai trong pháp luật việt nam - trinh-tu-thu-tuc
Hòa giải với tính chất là một phương pháp giải quyết tranh chấp

Sau đó, hòa giải trong giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp đất đai nói riêng tiếp tục được kế thừa và phát triển trong hàng loạt các văn bản pháp luật sau đó.Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng tại các Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12 quy định ngày càng cụ thể nhiệm vụ của tòa án và Ban tư pháp xã nhiệm vụ hòa giải, sắc lệnh 85-SL của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 22 tháng 5 năm 1950 ra đời tạo một bước ngoặt mới trong cải cách bộ máy tư pháp và thủ tục tố tụng dân sự. Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng và trong giải quyết tranh chấp dân sự nói chung đã tạo cơ sở cho các bước trình tự đầu tiên để tiến hành hòa giải.

Sau khi có Hiến pháp 1959, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960. Luật Tổ chức tòa án đã quy định rõ nhiệm vụ hòa giải của Tòa án nhân dân  Huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương đối với từng vụ tranh chấp về dân sự, tranh chấp đất đai không phải mở phiên tòa đồng thời Tòa án có nhiệm vụ hướng dẫn công tác hòa giải ở xã và khu phố (theo quy định )

Nhằm quy định chi tiết về nhiệm vụ hòa giải của Tòa án theo Luật Tổ chức tòa ngày 25/9/1961 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành thông tư 1080/TANDTC để khai nhiệm vụ này theo đó thì trong khi thực hiện thẩm quyền mới các Tòa án -.’ân dân thuộc tỉnh, thị xã, huyện, khu phố phải luôn chú ý đầy đủ đến việc hòa giải, dục nhân dân và xây dựng tư pháp xã. cần đề phòng khuynh hướng đưa ra xét Y. nhiều việc mà thiếu kiên trì hòa giải, giáo dục các đương sự và nhân dân.

Ngày 30/11/1974, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành thông tư số  TANDTC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự nói chung và trong giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng. Đổi với những vụ kiện mà việc hòa giải là giai ‘tổ tụng bắt buộc thì Thẩm phán của tòa án sơ thẩm phải hòa giải và chỉ đưa ra tại phiên tòa sơ thẩm khi đã hòa giải không thành. Thông tư số 25 ngày 30-11-1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của chế định hòa giải tố tụng dân sự chung và tranh chấp đất đai nói riêng.

Thông tư số 81/TANDTC ngày 24 tháng 7 năm 1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế tại mục B có quy định về phân chia tài sản thừa kế như sau: Trước hết cần cố gắng hòa giải để các đương sự tự thỏa đáng với nhau một cách hợp lý, hợp tình, trên tinh thần đoàn kết, nhường nhịn lẫn nhau. Khi xét thấy không còn khả năng hòa giải thành, Tòa án mới đưa ra xét xử.

Trách nhiệm của Tòa án đối với công tác hòa giải. Trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án tiến hành hòa giải để giúp các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án, trừ những trường hợp không hoà giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải.

Theo Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì sau khi hoan tat hồ sơ vụ án đến trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, việc hòa giải vụ án dân sự là một thủ tục bắt buộc, trừ những trường hợp không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải.

Theo công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ thì trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, tòa án cấp phúc thẩm nên tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Công văn số 116/2004/KHXX ngày 22/7/2004 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thực hiện thẩm quyền của tòa án nhân dân theo quy định của Luật Đất đai theo đó thì kể từ ngày 01/7/2004 trở đi Tòa án chỉ thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai, nếu tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại ủy ban nhân dân cấp xã mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí và khởi kiện đến tòa án. Trong trường hợp đương sự nộp đơn khởi kiện yêu cầu tòa án thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai mà tranh chấp đó chưa qua hòa giải tại ủy ban nhân dân cấp xã, thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự và hướng dẫn cho họ thực hiện theo quy định của Luật Đất đai. Trong trường hợp đương sự nộp đơn khởi kiện yêu cầu tòa án thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai mà tranh chấp đó chưa qua hòa giải tại ủy ban nhân dân cấp xã, thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự. Do đó, hòa giải ở cơ sở, UBND xã, phường, thị trấn là thủ tục đầu tiên rất quan trọng trước khi các bên yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc tranh chấp đất đai của mình.

Luật Đất đai năm 1993 ra đời cũng có quy định: “Nhà nước khuyến khích việc hoà giải các tranh chấp đất đai trong nhân dân”. Việc giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường hòa giải được Nhà nước khuyến khích và không bị coi là thủ tục bắt buộc phải thực hiện ở cơ sở và cấp xã trước khi các bên đương sự yêu cầu tòa án giải quyết. Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ: Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở. -_7ih chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Theo tinh thần của Luật Đất  21 năm 2003 thì hòa giải tranh chấp đất đai phải được hòa giải ở cơ sở, UBND cấp 2 trước khi các bên yêu cầu giải quyết tranh chấp ở tòa án và ở các cấp chính quyền gia phương.

Việc hòa giải ở cơ sở được quy định tại Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa ở cơ sở năm 1998, theo quy định thì Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.

Khái quát các văn bản pháp luật hiện hành về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay

Khai quat cac van ban phap luat hien hanh ve hoa giai trong giai quyet tranh chap dat dai hien nay - Sự hình thành và phát triển của chế định hòa giải tranh chấp đất đai trong pháp luật việt nam - trinh-tu-thu-tuc
Khái quát các văn bản pháp luật hiện hành về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 7 năm 2 16 ra đời thay thế cho Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Dân sự năm 2015 73 đời thay thế cho Bộ luật dân sự năm 2005.

Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2014 ra đời _ ’.hề cho Luật đất đai năm Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành ngày 1 năm 2003 và Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 thay thế cho Pháp lệnh hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998.

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ quy trình, tình tiết thi hành Luật Đất đai.

Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tối cao đã hướng dẫn phần thứ hai Bộ Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung tại Điều 8 về việc trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi. Khi xác định điều kiện khởi kiện vụ án dân sự mà đối tượng khởi kiện là sử dụng đất thì thực hiện như sau:

  1. a) Đối với tranh chấp ai có quyền sử dụng đất thì phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 135 của Luật Đất đai.
  2. b) Đối với tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì không phải tiến hành hòa giải tại ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục hòa giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 03 tháng 10 năm 2017, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Chỉ thị số 04/2017/CT-CA về việc tăng cường công tác hòa giải tại tòa án nhân dân. Cụ thể:

Yêu cầu của công tác hòa giải 

a) Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án phải nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn của công tác hòa giải khi giải quyết vụ án dân sự để chủ động, tích cực, kiên trì hòa giải.

b) Các vụ án dân sự phải được Tòa án tiến hành hòa giải, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được. Đây là quy định bắt buộc của Bộ luật Tố tụng dân sự.

c) Tòa án có trách nhiệm tổ chức, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

d) Thẩm phán phải giải thích, phổ biến đầy đủ, khách quan các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án cho đương sự; phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành.

đ) Trình tự, thủ tục hòa giải phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nghiêm cấm việc lợi dụng hòa giải để tiêu cực, trục lợi trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.

e) Bảo đảm dân chủ, bình đẳng, tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các đương sự; không được lừa dối, cưỡng ép, đe dọa, dùng vũ lực bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của họ.

 Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được vi phạm điều cấm của không trái đạo đức xã hội.

Chỉ tiêu hòa giải thành

       Phấn đấu số lượng vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được hòa giải thành so với số lượng vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết trong năm đạt tỷ lệ từ 60% trở lên.

Phấn đấu 100% Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không tuân theo nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; không có Quyết định công nhận sự thỏa thuận  của các đương sự khó thi hành hoặc không thi hành án được.

      Nhiệm vụ

  1. Nghiên cứu, xây dựng giáo trình về kỹ năng hòa giải vụ án dân sự, sổ tay thẩm phán về hòa giải vụ án dân sự và các tài liệu hướng dẫn quy trình, kỹ năng hòa 21 vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân.
  2. Tổ chức tập huấn cho Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án các quy định về pháp luật về hòa giải, kỹ năng, quy trình hòa giải trong tố tụng dân sự.
  3. Tổ chức nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm quốc tế về hòa giải trong tố tụng lãnh sự. Trước mắt, từ tháng 12-2017, triển khai việc áp dụng thí điểm một số kỹ năng hòa giải trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng trên cơ sở chia sẻ kinh nghiệm của chuyên gia quốc tế.
  4. Tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác hòa giải trong tố tụng dân sự.
  5. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, bố trí kinh phí phục vụ cho công tác hòa giải.
  6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức về hòa giải; kịp thời thông tin, biểu dương những Thẩm phán, Tòa án có tỷ lệ hòa giải thành cao.
  7. Phát động phong trào thi đua: “Nâng cao số lượng, chất lượng, hiệu quả hòa giải vụ án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”; gắn kết quả của phong trào thi đua này với việc bình xét các danh hiệu thi đua; đổi mới, hoàn thiện chỉ tiêu thi đua khen thưởng theo hướng coi trọng công tác hòa giải, trước mắt, 01 vụ án hòa giải thành được tính chỉ tiêu thi đua bằng 02 vụ án đã xét xử.

Qua nội dung các văn bản pháp luật và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán cho thấy vai trò quan trọng của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai và hướng tới cần hoàn thiện cũng như tiếp tục thực hiện công tác này trong thời gian tới.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here