Quyết định phê duyệt quy hoạch đường sắt - 9 tuyến đường sắt mới được quy hoạch với tổng chiều dài 2.362km

Võ Thị Lệ Hằng

Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Phó Thủ tướng Lê Văn Thành phê duyệt thông qua việc ký ban hành Quyết định số 1769/QĐ-TTg ngày 19/10/2021. Cụ thể, sẽ quy hoạch 09 tuyến đường sắt mới với tổng chiều dài 2.362km đến năm 2030. Quyết định phê duyệt quy hoạch đường sắt đã định hướng rõ tầm nhìn, mục tiêu và giải pháp, chính sách với mục đích đưa ngành công nghiệp lâu đời của Việt Nam phát triển vững bền.

quyet-dinh-phe-duyet-quy-hoach-duong-sat1-1651315637.jpg
Quyết định quy hoạch 09 tuyến đường sắt mới với tổng chiều dài 2.362km

Mục tiêu hướng đến của quyết định là đến năm 2030 sẽ cải tạo nâng cấp để khai thác một cách có hiệu quả các tuyến đường sắt hiện có, kết nối thông suốt tuyến đường sắt liên vận quốc tế; hoàn thành công tác triển khai kế hoạch chuẩn bị đầu tư, thu xếp nguồn lực để khởi công một số tuyến đường sắt mới, trong số đó ưu tiên tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam, những tuyến kết nối cảng biển cửa ngõ quốc tế, sân bay quốc tế, đường sắt đầu mối tại những thành phố lớn, nghiên cứu để triển khai tuyến đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ, đặt ra một số mục tiêu cụ thể như sau:

Về vận tải: Đạt 11,8 triệu tấn về khối lượng vận chuyển hàng hóa, chiếm khoảng 0,27% thị phần; đạt 460 triệu khách về khối lượng vận chuyển hành khách, chiếm khoảng 4,40% thị phần. Về kết cấu hạ tầng: Sẽ nâng cấp, cải tạo đảm bảo sự an toàn chạy tàu 07 tuyến đường sắt hiện có; triển khai đầu tư hai đoạn ưu tiên của tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam (Hà Nội - Vinh, Nha Trang - Thành phố Hồ Chí Minh); ưu tiên để xây dựng một số tuyến đường sắt kết nối cảng biển cửa ngõ quốc tế đặc biệt tại khu vực Hải Phòng và Bà Rịa - Vũng Tàu; kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với Cần Thơ, kết nối quốc tế với Trung Quốc, Lào và Campuchia phù hợp với những hiệp định vận tải quốc tế cùng với sự đồng bộ tiến độ đầu tư của các nước trong khu vực.

Tầm nhìn đến năm 2050 sẽ hoàn thành tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; tiếp tục đầu tư hoàn thành những tuyến đường sắt mới tại khu đầu mối Hà Nội, khu đầu mối Thành phố Hồ Chí Minh, đường sắt kết nối những cảng biển, khu kinh tế, khu công nghiệp, kết nối những tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, đường sắt ven biển, đường sắt kết nối quốc tế. Duy trì, nâng cấp, cải tạo những tuyến đường sắt hiện có đáp ứng về nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa.

Quy hoạch thêm 09 tuyến đường sắt mới với chiều dài 2.362km

Quyết định phê duyệt quy hoạch đường sắt đã chỉ ra, ngoài 7 tuyến đường sắt hiện có với tổng chiều dài khoảng 2.440 km thì mạng lưới đường sắt quốc gia đến năm 2030 còn quy hoạch thêm o9 tuyến đường sắt mới với tổng chiều dài lên đến 2.362km, bao gồm:

Tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam từ ga Ngọc Hồi đến ga Thủ Thiêm với chiều dài khoảng 1.545 km.

Tuyến Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân từ ga Yên Viên Bắc đến ga Cái Lân với chiều dài 129 km.

Tuyến vành đai phía Đông Thành phố Hà Nội từ Ngọc Hồi - Lạc Đạo - Bắc Hồng: Chiều dài khoảng 59 km; chuyển đoạn Ngọc Hồi - Yên Viên, Gia Lâm - Lạc Đạo thành đường sắt đô thị phù hợp với lộ trình xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 1 Hà Nội và đường sắt ở vành đai phía Đông.

Tuyến Hà Nội - Hải Phòng (thuộc tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng) song song với tuyến đường bộ cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (đến ga Nam Hải Phòng) kết nối cảng biển cửa ngõ quốc tế Hải Phòng với những khu bến cảng Đình Vũ, Nam Đồ Sơn và Lạch Huyện với chiều dài khoảng 102 km.

Tuyến Vũng Áng - Tân Ấp - Mụ Giạ từ cảng Vũng Áng đến biên giới Việt Nam - Lào (đèo Mụ Giạ) với chiều dài khoảng 103 km.

Tuyến Biên Hòa - Vũng Tàu từ ga Trảng Bom đến ga Vũng Tàu với chiều dài khoảng 84 km.

Tuyến Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ từ ga An Bình đến ga Cái Răng với chiều dài khoảng 174 km.

Tuyến Thành phố Hồ Chí Minh - Lộc Ninh từ ga Dĩ An đến điểm nối ray biên giới Việt Nam - Campuchia (cửa khẩu Hoa Lư) với chiều dài khoảng 128 km.

Tuyến Thủ Thiêm - Long Thành từ ga Thủ Thiêm đến ga Cảng hàng không quốc tế Long Thành chỉ phục vụ hành khách với chiều dài khoảng 38 km.

Mạng lưới đường sắt quốc gia đến năm 2050 sẽ được quy hoạch gồm 25 tuyến với chiều dài 6.354km.

Đến năm 2030 tổng nhu cầu vốn khoảng 240.000 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn ngoài ngân sách và những nguồn vốn hợp pháp khác.

quyet-dinh-phe-duyet-quy-hoach-duong-sat2-1651315675.jpg
Mạng lưới đường sắt quốc gia đến năm 2050 sẽ được quy hoạch gồm 25 tuyến với chiều dài 6.354km

Những giải pháp, chính sách chủ yếu của quyết định quy hoạch đường sắt

Nhằm thực hiện được những nhiệm vụ trên, Quyết định đã nêu rõ những giải pháp chính sách chủ yếu. Cụ thể, về cơ chế, chính sách: Xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ở trong nước và đầu tư quốc tế, kinh doanh vận tải đường sắt, dịch vụ về hỗ trợ vận tải; xây dựng cơ chế về khai thác quỹ đất (đặc biệt là tại các ga đường sắt) nhằm mục đích huy động nguồn vốn đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia.

Về nguồn lực đầu tư: Tiếp tục thu hút và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn ODA, nguồn vốn vay ưu đãi của những nhà tài trợ quốc tế; sử dụng nguồn vốn đầu tư có trọng tâm; trọng điểm vào những công trình đường sắt có tính lan tỏa.

Tiến hành xúc tiến xã hội hóa ở trong kinh doanh đường sắt, dịch vụ về hỗ trợ vận tải; thu hút những thành phần kinh tế, kể cả những nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào đầu tư phương tiện vận tải, những công trình hỗ trợ cho hoạt động vận tải (kho, ke ga, bãi hàng, phương tiện xếp dỡ,...) Tạo lập nên một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa những thành phần kinh tế tham gia vào kinh doanh đường sắt.

Về môi trường, công nghiệp, khoa học và công nghệ đường sắt: Từng bước kiểm soát, phòng ngừa cũng như hạn chế gia tăng sự ô nhiễm môi trường do hoạt động giao thông vận tải đường sắt, đặc biệt là xử lý nước thải, chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp. Hạn chế những tuyến đường sắt đi qua những khu vực nhạy cảm về môi trường; trường hợp bắt buộc phải có phương pháp bồi hoàn hệ sinh thái sao cho phù hợp. 

Về phát triển nguồn nhân lực: Tiến hành đẩy mạnh công tác nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về quản lý, xây dựng, vận hành đường sắt thông qua việc thành lập cơ sở về đào tạo, nghiên cứu, thực nghiệm chuyên sâu về lĩnh vực đường sắt. Hợp tác đào tạo, thu hút chuyên gia về đường sắt tốc độ cao, về đường sắt đô thị, từng bước làm chủ những công trình công nghệ cốt lõi,...Ưu tiên dành chỉ tiêu đào tạo ở nước ngoài về chuyên ngành đường sắt.

quyet-dinh-phe-duyet-quy-hoach-duong-sat3-1651315701.jpg
Tăng cường hợp tác quốc tế ngành đường sắt

Triển khai mở rộng hợp tác quốc tế, đặc biệt là các nước có ngành đường sắt phát triển nhằm tiếp thu khoa học công nghệ cũng như kinh nghiệm phát triển đáp ứng về nhu cầu trong nước, tiến tới mở rộng thị trường sang các nước ở trong khu vực và trên thế giới. Tăng cường về hợp tác quốc tế để ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là trong ứng dụng kết quả của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào quản lý đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống giao thông đường sắt.