Ghé thăm “huyệt phong thủy” đắc địa bậc nhất xứ Huế, ẩn chứa huyền cơ đặc biệt dành cho bậc mẫu nghi thiên hạ?

Nguyễn Thị Thùy

Lăng Vạn Vạn có nguyên tắc thiết kế không nằm ngoài hệ thống phong thủy từ cổ xưa. Dù tọa lạc ở đất đồng bằng nhưng lăng được xây dựng trên gò đất cao khoảng 4m so với mặt đất, gọi là Huyền Cung.

Lăng Vạn Vạn là nơi bà Tiên Cung an yên giấc ngủ ngàn thu. Trước kia, lăng này thuộc xứ Cù Bạc, làng An Cựu Tây, tổng An Cựu, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên. Đến thời điểm hiện tại, lăng Vạn Vạn thuộc thôn Tam Tây, xã Thủy An, TP. Huế.

Lăng này được đặt dựa theo thế phong thủy “Tọa sơn, hướng thủy” cùng với “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ”. Trong đó, khu lăng mộ chạy theo trục Tây Bắc - Đông Nam. Phía lưng tựa vào núi Ngự Bình, phía trước có dòng nước chảy qua, lăng Vạn Vạn chính là kiểu “tọa sơn, hướng thủy”, dòng nước là “tiền Chu Tước”. Dân An Cựu gọi là cái hói, khởi từ vùng cận sơn chảy qua Cống Bạc và tựu về sông An Cựu.

lang-1-1652257274.png
Lăng này được đặt dựa theo thế phong thủy “Tọa sơn, hướng thủy” cùng với “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ”

Ở phía trước lăng có xây bình phong cuốn thư để làm án sơn, hai bên là hai trụ biểu đồ sộ, hai bên sân trước có hệ thống dã sơn bằng đá. Kiến trúc của lăng tương tự như  Thánh Cung lăng nhưng khuôn viên rộng hơn. Đây được coi là công trình to đẹp, bề thế nhất trong các lăng mộ của Hoàng hậu nhà Nguyễn.

Lăng Vạn Vạn thờ ai?

Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả có ghi, vua Đồng Khánh có 2 Hoàng hậu. Trong đó, Đệ nhất Hoàng Hậu Nguyễn Thị Nhàn (1870-1935) và thường gọi là Thánh Cung. Bà sinh được 2 con trai là Nguyễn Phúc Bửu Nguy và Nguyễn Phúc Bửu Nga nhưng đều mất sớm. Lăng Thánh Cung được đặt tên là Tư Minh lăng, nằm gần lăng Đồng Khánh ở làng Dương Xuân, Hương Thủy, Huế.

Hoàng hậu thứ của vua Đồng Khánh là Dương Thị Thục (chữ Hán: 楊氏淑) sinh ngày 18/8/1868, mất ngày 18/9/1944. Sử sách thường gọi bà là bà Tiên Cung. Vị hoàng hậu thứ này cũng sinh được 2 người con trai là Nguyễn Phúc Tuấn (Bửu Đảo) và Nguyễn Phúc Bửu Cát. Trong đó, Bửu Đảo sinh năm Ất Dậu 1885 đến năm Bính Thìn 1916 lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Khải Định.

lang-2-1652257484.png
Lăng của bà Tiên Cung được gọi là lăng Tư Thông nhưng dân gian vẫn gọi là lăng Vạn Vạn

Năm 1886 (Bính Tuất), bà Tiên Cung được phong Hòa tần. Ba năm sau đó, vua Đồng Khánh băng hà. Vì con trai còn quá nhỏ, triều đình thông qua Toàn quyền Pierre Paul Rheinart đưa con trai của vua Dục Đức là Nguyễn Phúc Bửu Lân lên kế vị, tức vua Thành Thái.

Bà Tiên Cung cũng bị giáng xuống làm Tiệp dư. Đến năm 1916, chính biến xảy ra, vua Thành Thái bị phế còn vua Duy Tân bị lưu đày, Phụng Hóa công Bửu Đảo lại lên ngôi vua, tức vua Khải Định khiến bà Tiên Cung lại được sách phong Hoàng thái phi. Đến năm 1924, bà được phong Khôn nghi Hoàng thái hậu. Đến đời vua Bảo Đại - là cháu nội - bà Tiên Cung được phong Khôn nghi Xương đức Thái hoàng thái hậu vào năm Quý Dậu 1933. Năm 1944, Thái hoàng thái hậu quy tiên, hưởng thọ 77 tuổi.

Theo lệ thông thường, tên lăng của Hoàng hậu sẽ được bắt đầu bằng một chữ mang tên lăng của vua. Lăng của bà Tiên Cung được gọi là lăng Tư Thông nhưng dân gian vẫn gọi là lăng Vạn Vạn.  

Huyệt mộ phong thủy đắc địa bậc nhất xứ Cù Bạc           

Các thầy địa lý của triều đình thời xa xưa quan niệm, những nơi đất tốt để chọn xây lăng vua sẽ được gọi là “Vạn niên cát cục” hoặc “Vạn niên cát địa”. Nơi Vạn Niên chỉ lăng Tự Đức gắn liền với câu ca dao trứ danh: “Vạn Niên là Vạn Niên nào?/Thành xây xương lính, hào đào máu dân!”.

Phần đất cát tường để xây lăng cho thân sinh của vua gọi là “Vạn vạn niên cát cục” hoặc “Vạn vạn niên cát địa”. Mảnh đất chọn để xây lăng cho bà nội của vua sẽ là “Vạn vạn niên đại cát cục” hoặc “Vạn vạn niên đại cát địa”. Trong phong thủy, thuật ngữ “Vạn niên cát địa” hay “Vạn niên đại cát địa” có ý nghĩa là “đất tốt lành vạn năm” và “đất cực vượng khí”.

lang-3-1652257490.png
Theo góc nhìn phong thủy âm trạch, ngay cả những thầy địa lý lão làng cũng chưa chắc tìm được thế đất có mạch khí tốt

Theo góc nhìn phong thủy âm trạch, ngay cả những thầy địa lý lão làng cũng chưa chắc tìm được thế đất có mạch khí tốt. Thế nên, “Vạn niên cát địa” hay “Vạn niên đại cát địa” tượng trưng cho thế đất hoàn hảo và tụ khí thiêng, an táng người đã mất ở đây sẽ để lại phúc lành cho hậu thế, giúp triều đình trụ được dài lâu. Chính vì thế, cái tên Vạn Vạn ra đời. 

Khác với lăng tẩm của vua chúa khác, lăng Vạn Vạn ấp mình giữa chốn đồng bằng xứ Huế. Thời ấy, vùng đất thiêng Vạn Vạn tụ hợp nhiều yếu tố cát lành, đúng như câu nói: “Cù Bạc nhất xứ huyệt, Công hầu đợi đợi bất tuyệt”. Tức là: Cù Bạc là xứ đất lành, chọn làm huyệt mộ thì con cháu đời sau vinh xương, hiển đạt, công hầu khanh tướng không cần lo nghĩ.

Năm 1946, triều Nguyễn cáo chung, lăng Vạn Vạn dần dần không còn ai chăm lo, tu bổ. Mãi đến năm 1955, bà Từ Cung - mẹ vua Bảo Đại mới vận động chính quyền sở tại cử người bảo vệ, chăm sóc lăng. Theo sự thay đổi của các vương triều, lăng Vạn Vạn dần rơi vào quên lãng. Trừ con cháu thân thuộc, chẳng còn ai đoái hoài đến nơi này. Lăng còn bị hư hỏng ít nhiều sau chiến sự Tết Mậu Thân 1968 và sau đó được bà Từ Cung tu sửa tạm.

lang-4-1652257484.png
Lăng Vạn Vạn được thiết kế theo nguyên tắc của hệ thống phong thủy cổ xưa

Năm 2022, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế mới tìm người chăm sóc lăng Vạn Vạn. Cũng trong năm này, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển của Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên – Huế, thạc sĩ Phan Thuận An đã đề xuất ý kiến rằng: “Mặc dù lăng Vạn Vạn lâu nay ít được quan tâm giữ gìn vì những lý do khác nhau, nhưng với những giá trị lịch sử và kiến trúc, nói chung là giá trị văn hóa, di tích này xứng đáng được xếp hạng, bảo tồn và phát huy tác dụng như nhiều lăng tẩm khác của triều Nguyễn ở Cố đô Huế”.

Huyền Cung - mật địa trong lăng Vạn Vạn

Lăng Vạn Vạn được thiết kế theo nguyên tắc của hệ thống phong thủy cổ xưa. Dù nằm ở đất đồng bằng nhưng lăng vẫn được xây dựng trên gò đất cao khoảng 4m so với mặt đất, gọi là Huyền Cung. Để phòng sạt lở, xung quanh sân được ốp đá, mặt sân lát gạch ca rô đúc xi măng. Những lan can được trang trí hoa văn hình chữ vạn và nhiều hoa văn khác. Muốn tới Huyền Cung, từ hồ bên trong phải đi qua ba tầng sân cao dần.

Huyền Cung được coi là mật địa trong toàn khu lăng mộ. Huyền Cung được bao bọc bởi Bửu Thành, nằm tại trung tâm khuôn viên lăng Vạn Vạn. Cung này có hình chữ nhật, diện tích khoảng 4000m2 và được bao bọc xung quanh bởi hai vòng thành kiên cố, vòng ngoài cao 4,5m và dày 0,76m còn vòng trong cao 3m và dày 0,6m, được xây bằng gạch vồ và vữa xi măng.

lang-5-1652257490.png
Dù nằm ở đất đồng bằng nhưng lăng vẫn được xây dựng trên gò đất cao khoảng 4m so với mặt đất, gọi là Huyền Cung

Xung quanh sân là các bổ trụ được chắp hình hoa sen, tựa như những ngọn đèn soi sáng Huyền Cung hết năm này qua tháng khác. Lối vào Huyền Cung chỉ có một cửa duy nhất ở mặt tiền gọi là Bửu Thành Môn, được xây dựng kiểu hình vòm, bên trên là 2 tầng mái giả.

Trong đó, các bờ mái và bờ quyết đều có hình phụng ngoái đầu chầu nhật nguyệt phù vân. Ở các mặt trụ cửa, cổ diêm đều phân thành ô hộc được đắp nổi các họa tiết như mai hoa thế, liên hoa cuốn vân,...

Bước qua Bửu Thành là bức bình phong hình cuốn thư được xây đắp mềm mại, trang trí phong phú với các họa tiết như bát bửu, tứ thời,... Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là chữ vạn thọ cách điệu. Chính giữa của Huyền Cung là một ngôi mộ đá có thiết kế tựa ngôi nhà nhỏ và được xây trên bậc cấp. Bốn góc đều có lan can bổ trụ chắp hình hoa sen cùng 8 cặp quả: đào tiên, mãng cầu, xoài, lựu.

Tám mặt trụ bốn góc nhà mộ đều được trang trí các chủ đề liễu mã (cây liễu và con ngựa), tiêu tượng (cây chuối và con voi), tùng lộc (cây thông và con nai), mai điểu (hoa mai và chim điểu).

Ở giữa bờ quyết, hình ảnh phụng bay trong mây, miệng ngâm cổ đồ thư kiếm. Hai bên tả hữu đều trang trí từng đôi phụng bay nhưng đầu quay về chầu lưỡng nghi (vòng tròn âm dương) ở giữa.

lang-6-1652257484.png
Chính giữa của Huyền Cung là một ngôi mộ đá có thiết kế tựa ngôi nhà nhỏ và được xây trên bậc cấp

Điều đáng nói, tất cả các họa tiết trang trí ở đây đều dùng con số 8. Nếu như Bát quái tượng trưng cho 8 hiện tượng lớn trong vũ trụ thì trong phong thủy, con số 8 mang nặng ý nghĩa ngăn chặn những điềm xấu xâm phạm. Do đó, 8 cặp quả hoặc 8 mặt trụ đều mang ngụ ý bảo vệ và che chở cho bậc mẫu nghi thiên hạ an giấc ngàn thu. Và nơi huyệt tụ khí thiêng như thế sẽ phát phần âm đức cho hậu thế được thụ hưởng.

Bên cạnh đó, lối điểm họa chữ thọ cùng 4 con dơi cách điệu, cách trang trí này thể hiện “ngũ phúc” gồm phú (có nghĩa là giàu), quý (có nghĩa là sang), thọ (với ngụ ý sống lâu), khang (mong ước về sức khỏe) và ninh (có nghĩa là bình an). Ở cuối sân khu Huyền Cung là bình phong hậu cũng được thiết kế theo hình cuốn thư. Chính điện thì được trang trí chữ thọ cách điệu ở giữa, 4 góc là 4 con dơi, thể hiện “ngũ phúc”.

Có thể thấy, nơi đặt huyệt mộ cùng với lối thiết kế lăng mộ áp dụng nguyên tắc phong thủy một cách nghiêm túc như thế thể hiện đầy đủ hiếu đạo của một người con đối với bậc sinh thành. Tọa lạc giữa lòng xứ Huế mộng mơ, lăng tẩm của bậc mẫu nghi thiên hạ luôn mang nhiều ý nghĩa đặc biệt. Đây không chỉ là nơi ủ ấm mạch khí cho vùng đất thiêng này mà còn là sự che chở phúc lành cho hậu thế muôn đời sau của một người vợ, người mẹ lặng thầm trong lòng đất.