Thu hồi đất nông nghiệp và những quy định liên quan cần nắm

Võ Thị Lệ Hằng

Quá trình thu hồi đất nông nghiệp diễn ra ngày càng nhiều trong bối cảnh đất nước tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hội. Thế nhưng, việc thu hồi đất đã tác động lớn đến đời sống của các hộ nông dân. Quyền lợi của người nông dân sẽ bị ảnh hưởng nhiều nếu như không giải quyết tốt những vấn đề liên quan đến thu hồi đất. Vậy trình tự thủ tục thu hồi đất nông nghiệp được diễn ra như thế nào? Mức bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp ra sao? Bài viết sau đây sẽ giúp bạn làm rõ điều đó, hãy theo dõi ngay nhé.

Thu hồi đất nông nghiệp là gì?

Thu hồi đất nông nghiệp là việc Nhà nước quyết định thu hồi lại quyền sử dụng đất nông nghiệp của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất nông nghiệp của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.

thu-hoi-dat-nong-nghiep1-1649146138.jpg
Khi tiến hành thu hồi đất nông nghiệp, Nhà nước sẽ bồi thường cho người dân và có các chính sách hỗ trợ hợp lý

Khi nào thu hồi đất nông nghiệp?

Theo Khoản 1, Điều 16, Luật Đất đai, đất nông nghiệp sẽ có quyết định thu hồi trong những trường hợp sau:

- Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

- Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai:

  • Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm.
  • Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất.
  • Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền.
  • Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật Đất đai mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho.
  • Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm.
  • Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm.
  • Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành.

- Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người như:

  • Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế.
  • Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất.
  • Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn.
  • Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.
  • Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.

Thẩm quyền thu hồi và trình tự thu hồi đất nông nghiệp

Điều 66 Luật Đất đai 2013 quy định về thẩm quyền thu hồi đất. Theo đó chỉ có cơ quan có thẩm quyền mới được ra quyết định thu hồi đất. Cụ thể, Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất đối với những trường hợp là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích được xã, phường, thị trấn đang quản lý, là đất thuộc quyền sở hữu của các tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Uỷ ban nhân dân cấp huyện sẽ có thẩm quyền thu hồi đối với phần đất thuộc quyền của các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư.

thu-hoi-dat-nong-nghiep2-1649146230.jpg
Vì diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi không hề nhỏ nên vấn đề bồi thường như thế nào cho thỏa đáng luôn nhận được sự quan tâm của mọi người

Bên cạnh việc thu hồi đất đúng thẩm quyền thì cơ quan thu hồi đất cần phải đáp ứng điều kiện về thủ tục thu hồi đất nông nghiệp. Đầu tiên cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất tiến hành thông báo về việc thu hồi đất chậm nhất 90 ngày đối với đất nông nghiệp trước khi đưa ra quyết định thu hồi đất. Đây là bước thông báo cần phải gửi đến cho người có đất bị thu hồi, thông báo trên thông tin đại chúng hay tổ chức các cuộc họp để phổ biến cho những người bị thu hồi đất những thông tin về việc đất thu hồi. Khi đó, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, đo đạc, khảo sát, kiểm đếm. Trách nhiệm của người sử dụng đất là phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát. Với những trường hợp không có sự thiện chí phối hợp từ người sử dụng đất thì những cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức vận động, khuyến khích, thuyết phục các đối tượng này. Nếu như không thuyết phục, vận động được người sử dụng đất thì người có thẩm quyền quyết định tiến hành kiểm đếm bắt buộc. Trong trường hợp nếu như người có đất thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế để thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế như những gì luật định. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường và giải phóng mặt bằng phải có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường sau khi tiến hành kiểm đếm.

Tiếp đó là tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến những ai có đất thu hồi, trong đó phải ghi rõ mức bồi thường. Đối với trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện. Nếu như không thể vận động, thuyết phục thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế căn cứ theo Điều 71 Luật Đất đai 2013.     

Điều kiện để được bồi thường thu hồi đất nông nghiệp

Pháp luật đất đai đã đưa ra những quy định về nguyên tắc bồi thường thu hồi đất nhằm đảm bảo việc bồi thường đất được thực hiện minh bạch và công bằng. 

Cụ thể, Điều 74 Luật Đất đai 2013 đã quy định chung về những nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là những phần đất có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật. Mà trong đó việc bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp cũng cần được thực hiện theo nguyên tắc này. Theo đó, điều kiện để được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đó là hộ gia đình hay cá nhân đang sử dụng đất đai được giao không phải trả tiền thuê, có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất đó chưa có giấy chứng nhận nhưng có đủ điều kiện để có thể được cấp giấy chứng nhận thì vẫn thuộc vào trường hợp được bồi thường.

thu-hoi-dat-nong-nghiep3-1649146279.jpg
Chỉ có cơ quan có thẩm quyền mới được ra quyết định thu hồi đất

Đối với phần đất thuộc cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo đang sử dụng không thuộc vào những trường hợp được giao và thuê; những phần đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc đủ điều kiện để cấp giấy nhưng vẫn chưa làm thủ tục để được cấp.

Đối với những phần đất thuộc quyền sở hữu của người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài do thuê của Nhà nước và đã trả tiền thuê đất một lần; hay phần đất người này có được nhờ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ những khu công nghiệp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa được cấp. Những tổ chức có được quyền sử dụng đất do Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất một lần; tổ chức được nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận nhưng vẫn chưa được cấp. Những tổ chức nước ngoài thực hiện các chức năng ngoại giao có quyền sử dụng đất do Nhà nước cho thuê có thu tiền sử dụng đất một lần đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất hoặc đã có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận. 

Bên cạnh việc có đủ giấy tờ, căn cứ để chứng minh quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất sẽ được bồi thường bằng những hình thức như được Nhà nước giao cho loại đất cùng mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi, hoặc hình thức bồi thường bằng tiền được áp dụng theo bảng giá đất của địa phương đó. Theo như nguyên tắc chung về việc bồi thường tiền đất thì cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng việc bồi thường đất đai một cách khách quan, công bằng và đúng với quy định của pháp luật.

Các khoản bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp

Bồi thường về đất

Căn cứ về quyết định bồi thường được quy định trong Điều 74 Luật Đất đai:

Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật”.

Vậy là, việc bồi thường đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi. Nếu như không có đất để bồi thường thì cá nhân, hộ gia đình sẽ được bồi thường bằng tiền theo giá đất nông nghiệp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi đất nông nghiệp.

thu-hoi-dat-nong-nghiep4-1649146320.jpg
Bồi thường sau khi tiến hành thu hồi đất nông nghiệp sao cho hợp lý?

Bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn lại

Điều 77, Luật Đất đai quy định:

“Điều 77. Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định sau đây:

a) Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất do được nhận thừa kế;

b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

c) Đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này".

Điều này có thể hiểu là, bên cạnh việc bồi thường về đất, người sử dụng đất còn được bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất nông nghiệp. Thế nhưn, Điểm d, Khoản 1, Điều 76 Luật Đất đai đã quy định, đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì sẽ không được bồi thường về đất mà chỉ được bồi thường về đất mà chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất.

Bồi thường đối với cây trồng

Khoản 1, Điều 90, Luật Đất đai quy định:

“1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với cây hằng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;

b) Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;

c) Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;

d) Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng”.

Vậy nên, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà gây ra thiệt hại đối với cây trồng thì người sử dụng đất sẽ được bồi thường theo quy định. Sẽ phù thuộc vào từng loại cây trồng để mà có từng hình thức bồi thường khác nhau: cây hằng năm, cây lâu năm, cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác, cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây tự nhiên. 

thu-hoi-dat-nong-nghiep5-1649146360.jpg
Không ít hộ nông dân trông chờ Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để nhận được khoản bồi thường

Bồi thường đối với vật nuôi

Khoản 2, Điều 90, Luật Đất đai quy định:

“2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với vật nuôi là thủy sản thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường;

b) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra; mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định”.

Vậy nên, nếu như việc thu hồi đất nông nghiệp (đất nuôi trồng thủy sản) mà gây thiệt hại đối với vật nuôi là thủy sản thì người sử dụng đất sẽ được bồi thường nếu tại thời điểm thu hồi đất chưa đến kỳ thu hoạch thủy sản.

Bài viết trên đây gửi đến bạn những thông tin pháp lý liên quan đến thu hồi đất nông nghiệp, mong rằng sẽ hữu ích, giúp mọi người có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi rơi vào trường hợp cần giải quyết tương tự.